Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với

TIN TỨC > CÂY CỎ LÀM THUỐC

Những khám phá về Sen và các bài thuốc từ sen

Cập nhật ngày 14/7/2008 lúc 6:22:00 PM. Số lượt đọc: 3892.

Tất cả các bộ phận của cây sen như lá, cuống, hoa, hạt và tâm sen đều được dùng làm thuốc. Theo Đông y, hạt sen có vị ngọt tính bình, tác dụng bổ tỳ dưỡng âm, sáp trường cố tính, chữa bệnh đường ruột, tả, lỵ, di mộng tinh, đới hạ, mất ngủ.

Tên phổ thông: Sen

Tên khác: Sen đỏ, Liên hoa, Sen hồng, Sen ấn độ

Tên tiếng Anh: Sacred Lotus

Tên khoa học: Nelumbo nucifera (Gaertn.)

Tên đồng nghĩa: Nelumbium speciosum (Willd.) hay Nymphaea nelumbo.

Thuộc họ Sen - Nelumboraeae

Đây là một loại cây thủy sinh sống lâu năm. Trong thời kỳ cổ đại nó đã từng là loại cây mọc phổ biến dọc theo bờ sông Nin ở Ai Cập cùng với một loài hoa súng có quan hệ họ hàng gần gũi có tên gọi dài dòng là hoa sen xanh linh thiêng sông Nin (Nymphaea caerulea); và hoa, quả cũng như các đài hoa của cả hai đã được họa lại khá rộng rãi như là một kiểu kiến trúc ở những nơi cần các hình ảnh linh thiêng. Người Ai Cập cổ đại sùng kính hoa sen và sử dụng nó trong các nghi thức tế lễ. Từ Ai Cập nó đã được đem đến Assyria và sau đó được trồng rộng rãi khắp các vùng Ba Tư, Ấn Độ và Trung Quốc. Nó cũng có thể là loài cây bản địa ở khu vực Đông Dương, nhưng ở đây có sự nghi vấn về điều này. Năm 1787, lần đầu tiên nó được đưa tới Tây Âu như một loài hoa súng dưới sự bảo trợ của Joseph Banks và có thể thấy được trong các vườn thực vật hiện nay mà ở đó có sự cung cấp nhiệt. Ngày nay nó là hiếm hoặc đã tuyệt chủng tại châu Phi nhưng lại phát triển mạnh ở miền nam châu Á và Australia. Nó là quốc hoa của Ấn Độ.

Cây mọc ở nước, có thân rễ hình trụ (Ngó Sen), từ đó mọc lên những lá có cuống dài. Các thân già có nhiều gai nhỏ. Hoa thường mọc trên các thân to và nhô cao vài xentimet phía trên mặt nước. Thông thường sen có thể cao tới 1,5 m và có thể phát triển các thân rễ bò theo chiều ngang tới 3 m, một vài nguồn chưa kiểm chứng được cho biết nó có thể cao tới trên 5 m. Lá to với đường kính tới 60 cm, trong khi các bông hoa to nhất có thể có đường kính tới 20 cm. Hoa to, màu trắng hay đỏ hồng có nhiều nhị (Tua Sen) và những lá noãn rời, các lá noãn này về sau thành quả gắn trên một đế hoa hình nón ngược (Gương Sen) Mỗi quả chứa một hạt, trong hạt có chồi mầm (Tâm Sen) gồm 4 lá non gập vào trong

Có nhiều giống sen được trồng, với màu hoa dao động từ màu trắng như tuyết tới màu vàng hay hồng nhạt. Nó có thể chịu được rét tới khu vực 5 theo phân loại của USDA. Loài cây này có thể trồng bằng hạt hay thân rễ.

1. Sử dụng

Hoa, các hạt, lá non và thân rễ ăn được. Tại châu Á, các cánh hoa đôi khi được sử dụng để tô điểm món ăn, trong khi các lá to được dùng để gói thức ăn. Thân rễ (ngó sen) có thể dùng chế biến nhiều món ăn (xúp, canh, món xào) và là phần được dùng nhiều nhất. Các cánh hoa, lá non và thân rễ có thể ăn sống, mặc dù cần quan tâm tới việc truyền các loại ký sinh trùng sang người (chẳng hạn sán lá Fasciolopsis buski).

Các nhị hoa có thể phơi khô và dùng để ướp chè. Các hạt nhỏ lấy ra từ bát sen có nhiều công dụng và có thể ăn tươi (khi non) hoặc sấy khô và cho nổ tương tự như bỏng ngô. Hạt sen già cũng có thể luộc cho đến khi mềm và được dùng trong các món như chè sen hay làm mứt sen.

Tâm sen nằm trong các hạt sen được lấy ra từ bát sen cũng được sử dụng trong y học truyền thống châu Á như là một loại thuốc có tác dụng an thần và thanh nhiệt.

Lá sen có đặc điểm không thấm nước. Hiện tượng này được ứng dụng trong khoa học vật liệu, gọi là hiệu ứng lá sen, để chế tạo các bề mặt tự làm sạch. Thêm một chút và công dụng và cách sử dụng loài xen này: - Liên thạch(quả) dùng điều trị bệnh lỵ với liều lượng 5-10g dùng sắc, bột hoặc viên - Liên nhục(mầm) Chữa tiêu chảy, di mộng tinh, Thần kinh suy nhược. liều lượng 6 - 16g dùng sắc, bột hoặc viên - Liên tâm(Lá mầm) Chữa bện tâm phiền, mất ngủ. liều lượng 1,5 - 3g "sắc" - Liên diệp(Lá) Dùng an thần, cầm máu liều lượng 10 - 20g "sắc, bột. Đốt tồn tính" - Ngó Sen(củ sen) Chữa bệnh chảy máu, cầm máu. liều lượng 5 - 10g "sắc"

2. Biểu tượng

Ai Cập: Hoa sen là thứ hoa nhất hạng, nở ở những vùng nước tù đọng và bẩn đục, bông sen toàn mỹ một cách dâm đãng và tột bậc, là sự sống xuất hiện đúng lần đầu tiên trên khoảng mênh mông không rõ sắc màu của những vùng nước khởi nguyên. Trong tranh hình Ai Cập nó đã xuất hiện với ý nghĩa như vậy, trước tất cả, sau đó tạo hóa và vầng thái dương mới lóe ra từ trái tim rộng mở của nó. Như vậy hoa sen trước hết là bộ phận sinh dục, là âm hộ mẫu gốc, bảo đảm cho các cuộc sinh thành và tái sinh truyền lưu mãi mãi. Từ Địa Trung Hải cho đến Ấn Độ và Trung Hoa, tầm quan trọng về mặt trần tục cũng như về mặt linh thiêng đều bắt nguồn từ hình ảnh cơ bản này. Hoa sen xanh được coi là linh thiêng nhất trên vùng đất Ai Cập, là loại hoa tỏa ra hương thơm của cuộc sống thần thánh.

Ấn Độ: Hoa sen với màu sắc trong trắng trên bùn nhơ được hiểu với nghĩa đạo đức ở Ấn Độ. Những người theo Ấn giáo gắn hoa sen với niềm tin tín ngưỡng của họ và thường gắn với các vị thần như Vishnu, Brahma hay Lakshmi. Từ thời cổ đại thì hoa sen đã là biểu tượng thiêng liêng của người Hindu. Nó thường được sử dụng như là một ví dụ về vẻ đẹp linh thiêng, chẳng hạn Sri Krishna thông thường được miêu tả như là "người có mắt sen". Các cánh hoa đã nở được coi là sự mở rộng của tâm hồn và là biểu tượng của sự thăng hoa tinh thần. Vẻ đẹp của hoa sen tương phản với với nguồn gốc từ bùn lầy của nó thể hiện một sức mạnh tinh thần. Người ta cũng cho rằng cả Brahma và Lakshmi, các vị thần của sức mạnh và sự giàu có, có biểu tượng hoa sen gắn liền với họ tại chỗ ngồi của họ. Trong tiếng Hindi nó được gọi là Kamal, đây cũng là tên gọi phổ biến cho phụ nữ cũng như là một phần trong tên gọi của đàn ông tại Ấn Độ.

Hoa sen cũng được trích dẫn nhiều trong các văn bản Puranas và Vệ Đà.

"Người thực hiện bổn phận của mình mà không có sự quyến luyến, dâng các kết quả cho Đấng tối cao, sẽ không bị ảnh hưởng bởi các tác động tội lỗi, giống như lá sen không bị nước dính vào". Bhagavad Gita 5.10

Mặc dù chỉ là một loài hoa, nhưng hoa sen có nhiều huyền thoại nói về nguồn gốc thần thoại của nó, mà từ đó địa vị và ý nghĩa tinh thần lớn của nó đã được sáng tạo ra. Đáng chú ý nhất có lẽ là huyền thoại về "Samudra-manthana" - khuấy đảo đại dương.

Người ta kể rằng ngày xưa có một thời các vị thần thánh và quỷ dữ đã đạt được thỏa thuận là họ có thể cùng nhau khuấy đảo đại dương để lấy rượu tiên ẩn giấu dưới lòng đại dương. Khi họ đang khuấy tung đại dương lên thì biển cả đã để lộ ra 14 vật báu và bông hoa sen với Lakshmi ngồi trên đó là một trong số 14 vật báu này.

Vì hoa sen trong truyền thuyết có 8 cánh giống như không gian có 8 hướng, sen còn được coi là biểu tượng của sự hài hòa vũ trụ. Nó được dùng nhiều theo nghĩa này trong hình vẽ của nhiều mandala và yantra.

Vay mượn các ý nghĩa của hoa sen trong Ấn giáo, trong Phật giáo hoa sen tượng trưng cho sự tinh khiết của thể xác, lời nói và tinh thần, vượt ra ngoài ái. Đức Phật thông thường được vẽ trong tư thế ngồi trên đài sen khổng lồ tỏa sáng lung linh.

Trung Hoa: Văn chương Trung Hoa, vốn kết hợp lối chuộng phúng dụ với một chủ nghĩa hiện thực sâu sắc, đã dùng từ sen để chỉ đích danh âm hộ, và danh hiệu phỉnh nịnh dành tặng những cô nàng đĩ thõa là Sen vàng [2] .

Nhật Bản: Trong một giải thích tầm thường hóa hơn, văn học Nhật Bản thường coi loài hoa này, trong trắng đến thế giữa vùng nước bẩn, là một hình ảnh đức hạnh, vẫn có thể thanh khiết và nguyên vẹn giữa xã hội đầy những điều đê tiện, mà chẳng cần phải lui về một nơi hoang vắng như hoa lan (lan sinh u cốc, kỳ hương doanh dã), hoa cúc (biểu tượng của thú vui ở ẩn của kẻ sĩ).

Việt Nam: Hoa sen là biểu tượng cho sự trong sạch ở Việt Nam. Có câu ca dao:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Hiệu ứng lá sen và công nghệ nano

Trong văn hoá Á Đông hoa Sen từ ngàn năm nay được xem là biểu tượng của sự trong sạch. Cây Sen phát triển và trổ hoa từ những đầm lầy. Từ lá sen những giọt mưa chảy xuống cuốn theo tất cả những bụi bặm bám trên lá …

Ngay những chất có độ đặc cao như mật ong, dầu ăn và chất keo cũng không dính lại vì rất ít điểm chạm trên mặt lá … Chuyên gia gọi đó là “hiệu ứng lá sen” hoặc “sự tự làm sạch”, khi các điều kiện cơ bản cho phép: nước có thể lăn và cuốn theo chất dơ. Mặt bằng “Easy to clean” có nghĩa là khi rửa chỉ cần nước là đủ để rửa sạch hết bụi dơ …

Vào thập niên 90 một giảng sư đại học Đức chuyên về thực vật học đã mô tả cơ bản hoá lý của “hiệu ứng lá sen” như sau: Nguyên nhân chính yếu là cấu trúc của bề mặt. Trên bề mặt có những điểm lồi của tế bào và trên đó có những hạt crystal nhỏ được phân tán đều. Cấu trúc hai lớp này tạo ra một hiệu ứng vật lý: hạt nước rớt trên lá cuộn thành hình tròn lăn xuống khỏi lá và cuốn theo luôn các vết bụi.

Ngày xưa… Người ta đã bắt chước thiên nhiên tạo ra những mặt bằng có chất quét chất dầu, Silicon, hoặc wax. Những chất này phần nhiều là kỵ nước, rất hiếm có chất kỵ dầu, chất mỡ…

Ngày nay… Với công nghệ NANO người ta đã có khả năng chế ra cấu trúc của lá sen. Chất NANO kết hợp với mặt bằng và trở thành một phần của bề mặt … Như vậy lớp NANO không còn được gọi là một lớp tráng bề mặt. Nguyên liệu và bề mặt của chúng qua đó có thêm những tính chất mà cho đến nay chúng ta hoàn toàn không biết đến …

Sen và y học cổ truyền:

Bộ phận dùng:

- Hạt Sen: là phần màu trắng bên trong vỏ cứng của quả Sen, sau khi đã bỏ cả chồi mầm - Semen Nelumbinis, thường gọi là Liên tử

- Tâm Sen: là mầm xanh ở chính giữa hạt Sen - Plumu Nelumbinis, thường gọi Liên tử tâm

- Gương Sen: là đế của hoa đã lấy hết quả, phơi khô Receptaculum Nelumbinis, thường gọi Liên phòng

- Tua nhị Sen: là chỉ nhị của hoa Sen đã bỏ gạo Sen - Stamen Nelumbinis, thường gọi Liên tu

- Lá sen - Folium nelumbinis thường gọi là Hà Diệp

- Mấu ngó Sen - Nodus Nelumbinis Rhizomatis, thường Ngẫu tiết

Nơi sống và thu hái: Cây của miền Malaixia, châu Ðại dương và vùng Ðông Dương, mọc hoang và cũng được trồng nhiều. Thu hái các bộ phận của cây quanh năm.

Thành phần hoá học:

- Hạt Sen chứa nhiều tinh bột (60%), đường raffinose, 1% chất đạm, 2% chất béo và có một số chất khác như canxi 0,089%, phosphor 0,285%, sắt 0,0064%, với các chất lotusine, demethyl coclaurine, liensinine, isoliensinine.

- Tâm Sen có 5 alcaloid, tỷ lệ toàn phần là 0,89% - 1,06%, như liensinine, isoliensinine, neferine; lotusine, motylcon, paline; còn có nuciferin, bisclaurin (alcaloid) và betus (base hữu cơ).

- Gương Sen có 4,9% chất đạm, 0,6% chất béo, 9% carbohydrat và một lượng nhỏ vitamin C 0,017%.

- Tua nhị Sen có tanin.

- Lá Sen có tỷ lệ alcaloid toàn phần là 0,21-0,51%, có tới 15 alcaloid, trong đó chất chính là nuciferin 0,15%; còn roemerin coclaurin, dl-armepavin, O-nornuciferin liriodnin, anonain, pronuciferin, còn các acid hữu cơ, tan vitamin C.

- Ngó Sen chứa 70% tinh bột, 8% asparagin, arginin, trigonellin, tyrosinglucose, vitamin C, A, B, PP, tinh bột và một ít tanin.

Tính vị, tác dụng:

- Hạt Sen: Vị ngọt, tính bình; có tác dụng bổ tỳ dưỡng tâm, sáp trường, cổ tinh.

- Tâm Sen: Vị rất đắng, có tác dụng an thần nhẹ.

- Gương Sen: Có tác dụng tiêu ứ, cầm máu.

- Tua nhị Sen: Vị chát, tính ấm; có tác dụng sáp tinh, ích thận, thanh tâm, chỉ huyết.

- Lá Sen: Vị đắng, tính mát; có tác dụng hạ huyết áp, an thần, thanh thử,

lợi thấp, tán ứ, chỉ huyết.

- Ngó Sen: Có tác dụng cầm máu, tráng dương, an thần.

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

- Hạt Sen: Chữa các bệnh đường ruột như tỳ hư, tiết tả, lỵ; di mộng tinh, đới hạ, hồi hộp mất ngủ, cơ thể suy nhược, kém ăn ít ngủ. Ngày dùng 12-20g có thể đến 100g, dạng thuốc sắc hay hoàn tán. Là thực phẩm cao cấp để dùng cho người già yếu, trẻ con hoặc dùng chế biến các món ăn quý, chất lượng cao như làm mứt, nấu chè; là phụ liệu cho các món ăn dân tộc như bánh phồng tôm.

- Tâm Sen: Chữa sốt và khát nước, di mộng tinh, tim đập nhanh, huyết áp cao, hồi hộp hoảng hốt mất ngủ. Dùng 1,5-3g.

- Gương Sen: Chữa chảy máu tử cung, băng huyết, đau bụng dưới do máu ứ, ỉa ra máu, dỏi ra mỏu. Dùng 10-15g. Trong các bài thuốc chữa băng huyết, rong huyết, thường có kèm gương Sen bên cạnh các vị thuốc khác.

- Tua nhị Sen: Chữa băng huyết, thổ huyết, di mộng tinh, trĩ bạch đới, đái dầm, đái nhiều. Dùng 3-10g.

- Lá Sen: trị say nóng, viêm ruột, nôn ra máu dạ dày, chảy máu cam và các chứng chảy máu khác. Dùng 5-12g sấy trên than hoặc ngày dùng độ 1 lá, sắc nước uống. Còn dùng chữa chứng béo phì; dùng 15g lá Sen rửa sạch đun với nước sôi trong 50 phút hoặc hãm với nước sôi trong 10 phút, mỗi sáng uống 1 ấm.

- Ngó Sen: Dùng chữa bệnh sốt có khát nước và dùng cầm máu (ỉa ra máu, đái ra máu, nôn ra máu, chảy máu cam, đẻ xong xuất huyết) và trị bạch đới, ỉa chảy. Dùng ngó Sen 5-12g phơi khô sắc uống hàng ngày. Cũng có thể giã tươi lấy nước uống.

 

Các bài thuốc:

Chữa di mộng tinh, thần kinh suy nhược: lấy cánh hoa sen 70 g, ngó sen 80 g, hạt sen 90 g. Tất cả phơi khô trong chỗ râm mát, tán nhỏ, dùng ngày 2 lần (sáng, tối), mỗi lần uống 5 g với 30 ml rượu trắng 25-30 độ (hâm nóng).

Chữa mất ngủ, an thần: Tâm sen 12 g, sao vàng cho vào sắc với 2 bát nước còn 1 bát uống lúc còn ấm. Để chế thuốc ngủ, làm dịu đau, chống co giật, lấy lá sen bánh tẻ 15-30 g cho vào sắc cùng thuốc trên, cô lấy nước đặc, pha thêm đường cho đủ ngọt, uống trước khi ngủ 2 tiếng.

Chữa băng huyết: Lấy gương sen 1-2 cái, hoa kinh giới lâu năm: 10-15 g, sao cháy, tán nhỏ, thành bột mịn uống với nước cơm.

Chữa nôn ra máu, tiểu tiện, đại tiện ra máu: Ngó sen 100 g, cuống lá sen 25 g, đường 50 g. Ngó sen và cuống lá sen giã nát trộn với đường, cho vào 3 bát nước, sắc đến khi còn 1 bát thì uống.

anhtai.bvn (sưu tầm)

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi

SÁCH THAM KHẢO

CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT

SÁCH THAM KHẢO

LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2024