Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với
LOÀI

Tên Khoa học: Brassica chinensis L.
Tên tiếng Anh:
Tên tiếng Việt: Cải thìa; Cải bẹ trắng; cải trắng; cải ngọt, Cải rổ tàu
Tên khác: Brassica campestris L. ssp. chinensis (L.) Makino; B. rapa L. ssp. chinensis (L.) Hanelt;

MÔ TẢ CHUNG

Cây thảo sống 1 năm hoặc 2 năm, cao 25 - 70cm, có thể tới 1,5m. Rễ không phình thành củ. Lá ở gốc, to, màu xanh nhạt, gân giữa trắng, nạc; phiến hình bầu dục nhẵn, nguyên hay có răng không rõ, men theo cuống, tới gốc nhưng không tạo thành cánh. Các lá ở trên hình giáo.

Hoa màu vàng tươi họp thành chùm ở ngọn; hoa dài 1 - 1,4cm, có 6 nhị. Quả cải dài 4 - 11cm, có mỏ; hạt tròn, đường kính 1 - 1,5mm, màu nâu tím.

Có nhiều giống trồng hoặc thứ: có loại có lá sít nhau tạo thành bắp dài (var. cylindrica); có loại có lá sít thành bắp tròn (var. cephalata); có loại không bắp có ít lá sát nhau (var. laxa).

Loài của Trung Quốc, được nhập trồng. Trước đây ở nước ta đã có giống cải Trung kiên, cải Nhật Tân ở Hà Nội; từ năm 1965 - 1966, ta nhập các giống của Trung Quốc như cải trắng Hồ Nam, cải trắng lá vàng, cải trắng lá thẫm, cải trắng tai ngựa, cải trắng Trạm Giang. Còn có cải trắng lớn, cuống dài của Nam Kinh, Hàng Châu, Giang Tô, cải đầu vụ đông, cải lùn, cải Vân Đài v.v…

Nhiệt độ thích hợp là 10 - 270C. Có thể trồng quanh năm, từ đồng bằng đến núi cao, trừ những tháng quá nóng. Ở miền Bắc Việt Nam, gieo tháng 7 - 11, vụ đông xuân ươm cấy, các tháng khác gieo thẳng, thu hoạch sau khi gieo 40 - 70 ngày.

Cải thìa có nhiều vitamin A, B, C. Lượng vitamin C của nó đứng vào bậc nhất trong các loại rau. Sau khi phơi khô, hàm lượng vitamin C vẫn còn cao.

Cây trồng để lấy lá làm rau xanh. Phần bắp phình lên màu trắng, mềm, có thể dùng ăn sống như xà lách hay xào, nấu để ăn. Cũng có thể hầm với các loại thịt hoặc muối dưa.

Người ta thường sử dụng cải thìa với các công dụng sau:

1. Làm thuốc thanh nhiệt: Người bị bệnh nội nhiệt nặng (thiếu tân dịch, môi khô ráo hay lưỡi sinh cam, chân răng sưng thũng, kẽ răng chảy máu, họng khô cứng) thường gọi là bệnh tân dịch không đủ, nội hỏa bốc lên mà nguyên nhân là do thiếu vitamin C. Có thể dùng cải thìa làm nguồn cung cấp vitamin C sẽ giúp điều trị bệnh này. Nấu canh rau cải thìa ăn sẽ có tác dụng thanh hỏa rất tốt.

2. Nước ép cải thìa có lợi cho trẻ em trị nội nhiệt: Trẻ em bú sữa bò thường có bệnh nội nhiệt, cũng là thiếu vitamin C. Như khóe mắt có nhử dính, ghèn mắt dính chặt, mí mắt hoặc môi khô hồng, luôn luôn chúm môi lại, thở và ngủ không được, khóc cả đêm. Chỉ cần lấy cải thìa đâm nát, cho nước sôi để nguội vào lọc lấy nước, sau nấu sôi lên đợi âm ấm, đút cho uống hoặc đổ vào bình sữa cho trẻ em mút. Sau 1 tuần, hiện tượng nội nhiệt mất dần.

3. Trị bệnh hoại huyết: Dùng cải thìa tươi hoặc khô nấu ăn như rau tươi để đảm bảo dinh dưỡng bình thường và phòng chống bệnh hoại huyết, nhất là đối với người đi các tàu viễn dương xa đất liền nhiều ngày. Người ta biết được điều này từ cách đây 700 năm.

Ở Vân Nam (Trung Quốc), toàn cây và hạt được dùng làm thuốc giải nhiệt trừ phiền, thông lợi trường vị, còn trị lao phổi, đái buốt, đan độc và lở sơn.

ẢNH

PHÂN LOẠI KHOA HỌC
Giới: Thực vật
Ngành: Magnoliophyta
Lớp: Magnoliopsida
Bộ: Capparales
Họ: Brassicaceae
Chi: Brassica

CHỈ SỐ

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2024