Tên Khoa học: Alysicarpus vaginalis (L.) DC.Tên tiếng Anh: Tên tiếng Việt: Đậu vảy ốc; Đậu mũi mác; me đất; the theTên khác: Hedysarum vaginale L.; Alysicarpus nummularifolius (Willd.) DC.; A. vaginalis (L.) DC. var. nummularifolius (Willd.) Miq.;
Cây thảo mọc trườn, phân nhánh từ gốc; cành nhánh dạng sợi, không lông. Lá chét hình trứng - bầu dục, cỡ 12 - 40 x 5 - 12 mm, hình tim ở gốc, tròn có mũi nhọn ở đầu, có lông áp sát ở mặt dưới; gân bên 4 - 5 đôi; cuống lá có cánh và xẻ rãnh sâu; lá kèm dài 6 - 10mm.
Cụm hoa chùm dày hoa ở ngọn, cao 15 - 70cm. Hoa xếp từng đôi, có cuống rất ngắn. Đài hoa có 5 thùy mà 2 thùy trên dính đến một nửa, tràng hoa chỉ hơi thò ra, nhị 2 bó (9 + 1); bầu 4 - 7 noãn. Quả đậu hình trụ, cao 2 cm, lá lông nhung, có vân mạng, chia 4 - 7 đốt hình chữ nhật.
Loài phân bố ở các vùng nóng của Cựu lục địa. Ở Việt Nam cây mọc khắp nơi từ Bắc vào Nam, chủ yếu ở vùng thấp dưới 900m. Thường gặp trên các bãi cỏ, các ruộng khô, trên đất có cát, trong các vườn cây ăn quả. Có quả vào tháng 8 - 10.
Cây được sử dụng làm cây xanh phủ đất ở nhiều nước và cũng được dùng làm thức ăn cho gia súc. Hạt cây nghiền thành bột rồi hãm uống được dùng trị lỵ và các cơn đau bụng. Ở̉ Giava (Indônêxia), rễ sắc nước uống dùng trị ho. Còn ở Trung Quốc, toàn cây được dùng làm thuốc cho trẻ em tiêu hóa không bình thường và dùng ngoài làm thuốc đắp trị ngoại thương xuất huyết, gãy xương và mụn nhọt lở độc.