Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với

TIN TỨC > HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Xây dựng Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam
Cập nhật ngày 23/10/2009 lúc 11:42:00 AM. Số lượt đọc: 2825.

Trước tình hình suy giảm nghiêm trọng về tài nguyên sinh vật hiện nay, vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH), trong đó có các loài làm thuốc, đã trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế.

Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên động - thực vật phong phú và đa dạng. Theo kết quả điều tra chưa đầy đủ của Viện Dược liệu - Bộ Y tế, tính đến cuối năm 2005 đã ghi nhận được ở Việt Nam 3.948 loài thuộc 307 họ thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc. Trong số này, phần lớn các loài là mọc tự nhiên (trên 85%). Từ nguồn cây thuốc thiên nhiên, hàng năm đã cung cấp 10.000-20.000 tấn các loại dược liệu khác nhau cho nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, do khai thác liên tục nhiều năm, thiếu chú ý bảo vệ tái sinh, cùng nhiều nguyên nhân khác, đã làm cho nguồn tài nguyên này ngày càng bị cạn kiệt. Nhiều loài cây thuốc trước kia khai thác được nhiều nay đã mất đi khả năng khai thác lớn, thậm chí đã trở nên hiếm dần, như: vàng đắng (Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr.), ba kích (Morinda officinalis How), các loài hoàng tinh (thuộc chi DisporopsisPolygonatum)... Một số loài khác, vốn hiếm gặp ở Việt Nam, do có giá trị sử dụng và kinh tế cao, nên bị tìm kiếm khai thác gay gắt, như các loài sâm mọc tự nhiên (Panax spp.), hoàng liên (Coptis spp., Berberis spp.), bảy lá một hoa (Paris spp.)... - những loài này đang bị đe dọa cao và có nguy cơ bị tuyệt chủng ở Việt Nam. Vì thế, bảo tồn cây thuốc ở nước ta cũng đã được đưa vào trong chương trình "Bảo tồn nguồn gen và giống động - thực vật và vi sinh vật" của Bộ KH-CN từ năm 1998; trong chiến lược "Hành động ĐDSH Việt Nam" (1996) và nhiều chủ trương và dự án khác nhau. Song, cũng giống như việc bảo tồn các nhóm tài nguyên sinh vật khác nhau, trong bài báo này chúng tôi xin đề cập về vấn đề Xây dựng Danh lục Đỏ cây thuốc ở Việt Nam.

Lựa chọn đối tượng và một số nguyên tắc chung trong xây dựng Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam

1. Tiêu chí xác định loài ưu tiên bảo tồn

Trong bảo tồn ĐDSH nói chung và bảo tồn cây thuốc nói riêng, người ta thường đặt ra vấn đề lựa chọn "đối tượng ưu tiên". Theo D.A. Falk và K.E. Holsinger, 1991: Bất cứ loài nào có phạm vi, ranh giới phân bố hẹp, với số lượng cá thể ít thì đều được xem như có bối cảnh rủi ro cao và cần được ưu tiên bảo tồn. Trong khi đó, quan điểm của các nhà di truyền học lại cho rằng: Bất cứ taxon nào tiêu biểu cho một dòng tiến hóa duy nhất hoặc có mức độ khác biệt cao về mặt di truyền, đều là đối tượng bảo tồn. Còn A.B. Cunningham (1991) bổ sung: Còn nhiều loài khác bị xâm hại do khai thác quá mức hoặc môi trường sống của chúng bị thu hẹp thì cũng là đối tượng ưu tiên bảo tồn. Kế thừa các quan điểm trên, kết hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam, ngay từ năm 1996, chúng tôi đã đưa ra quan điểm: Tất cả những loài cây thuốc vốn hiếm gặp hay đang trở nên hiếm gặp bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, hiện đang lâm vào tình trạng bị đe dọa tuyệt chủng (ở Việt Nam) thì đều là đối tượng cần ưu tiên bảo tồn. Như vậy, đối tượng ưu tiên bảo tồn sẽ bao gồm các nhóm:

Nhóm 1: Những loài cây thuốc vốn hiếm gặp, do phạm vi phân bố hạn chế, với kích thước quần thể nhỏ - số lượng cá thể ít

Thuộc nhóm này có 2 nhóm nhỏ sau: Có giá trị sử dụng và kinh tế cao, thường xuyên bị lùng sục tìm kiếm gay gắt, hiện đã trở nên cực hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng rất cao (ví dụ: Sâm ngọc linh - Panax vietnamensis Ha et Grushv.; Sâm vũ diệp - P. bipinnatifidus Seem.; Hoàng liên - Coptis chinensis Franch. và C. quinquesecta Wang,...). Hiện tại chưa bị sức ép bởi các hoạt động khai thác, nhưng do phân bố hẹp, số lượng cá thể hạn chế lại mọc ở nơi dễ bị rủi ro bởi thiên tai (cháy rừng, lũ lụt...) hoặc các hoạt động không có chủ định của con người và động vật (ví dụ: Ba gạc - Rauvolfia serpentina (L.) Benth. ex Kurz; Biến hóa - Asarum balansae Franch.; Bình vôi hoa đầu - Stephania cepharantha Hayata,...).

Nhóm 2: Những loài cây thuốc có kích thước quần thể nhỏ, phân bố hạn chế

Gồm: Loài đặc hữu hẹp; là đại diện duy nhất của chi hay họ trong hệ thực vật Việt Nam và là loài mà sự hiện diện của chúng ở Việt Nam là điểm đầu hay điểm cuối trong bản đồ phân bố của loài đó trên toàn thế giới (ví dụ: các loài Hoàng liên gai - Berberis spp., ...). Các đối tượng thuộc 2 nhóm trên thường được gọi là những "Cây thuốc quí hiếm". Khái niệm quí hiếm ở đây chỉ mang tính tương đối, bởi chúng thực sự hiếm gặp về phân bố và quí về giá trị nguồn gen và giá trị sử dụng.

Nhóm 3: Là những loài cây thuốc vốn phân bố tương đối phổ biến (không hiếm gặp) với trữ lượng khá, do có giá trị sử dụng và kinh tế cao nên đã bị khai thác quá mức (và các nguyên nhân khác)

Hậu quả đã trở nên hiếm gặp, thậm chí còn đang bị đe dọa tuyệt chủng (ví dụ: Hoàng tinh vòng - Polygonatum kingianum Coll. et Hemsl.; Hoàng tinh cách - Disporopsis longifolia Craib; các loài Một lá - Nervilia spp., ...). Như thế, tất cả những loài cây thuốc nào rơi vào 1 trong 3 nhóm trên đều là đối tượng ưu tiên bảo tồn ở Việt Nam. Chúng được tập hợp trong một Danh sách gọi là "Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam". Trong đó từng loài còn được đánh giá về tình trạng bị đe dọa, theo các tiêu chuẩn trong khung phân hạng của IUCN.

2. Đánh giá được tình trạng bị đe dọa đối với các loài

Với những quan điểm và tiêu chuẩn đề cập trên, về cơ bản mới dừng ở mức để lựa chọn loài cần ưu tiên, đưa vào Danh lục Đỏ. Song, theo IUCN bất cứ một loài (hay bậc taxon) sinh vật nào đó chỉ có thể được đưa vào Danh lục Đỏ (Red List) hay Sách Đỏ (Red Data Book) khi chúng đã được đánh giá cụ thể về tình trạng hay mức độ bị đe dọa. Căn cứ vào các tiêu chí để lựa chọn loài cây thuốc đưa vào Danh lục Đỏ và các tiêu chuẩn trong khung phân hạng của IUCN (1994 và 2001), dễ dàng nhận thấy, để đánh giá được tình trạng bị đe dọa (mức độ) thì cần thiết phải có một số thông tin cơ bản như: Tên loài, họ thực vật; bộ phận dùng, công dụng; phân bố (trong và ngoài nước); trữ lượng tự nhiên (nếu có); các đặc điểm sinh học chủ yếu (sinh thái, môi trường nơi mọc, tái sinh tự nhiên, khả năng nhân trồng); tình hình khai thác sử dụng; các nguyên nhân tác động; các biện pháp quản lý và bảo tồn hiện có,... Tất cả các thông tin trên được hệ thống hóa lại trong một phiếu gọi là "PHIẾU DỮ LIỆU". Để xây dựng được phiếu dữ liệu cho từng loài, các thông tin thu thập từ các nguồn sau: Kết quả điều tra nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam từ 1961 đến nay (Tài liệu lưu trữ ở Viện Dược liệu). Thông tin từ các bộ tiêu bản cây thuốc. Số liệu khai thác thu mua dược liệu ở Việt Nam. Các tài liệu đã công bố.

Tổng số trong mỗi Phiếu dữ liệu này gồm khoảng 55 loại thông tin chi tiết. Lưu ý rằng, trong đó có một số loại thông tin cần phải ước đoán hoặc suy luận (có cơ sở) như: Phạm vi phân bố (Extent of occurence, Area of occupancy: tính bằng km2). Đặc điểm khu phân bố (liên lục hay chia cắt). Mức độ tác động của các nguyên nhân. Sự suy giảm hay xu hướng biến đổi của quần thể .... Như vậy, căn cứ vào thông tin có được trong Phiếu dữ liệu, đem đối chiếu với khung phân hạng của IUCN, có thể đánh giá (và xếp hạng) được về cấp độ bị đe dọa đối với mỗi loài cây thuốc trong Danh lục Đỏ.

3. Vấn đề cập nhật thông tin và đánh giá lại

Cây thuốc cũng như các loài sinh vật khác luôn có bản năng tái tạo và phát triển. Bên cạnh đó, chúng còn chịu sự tác động của tự nhiên và nhiều tác nhân khác. Bởi thế, số lượng loài có tên trong Danh lục Đỏ cây thuốc, theo thời gian cũng có thể bị thay đổi. Theo quan điểm của IUCN, trong quá trình làm bảo tồn, cần thường xuyên thu thập cập nhật được thông tin về tình trạng của các loài (trong và ngoài Danh lục Đỏ). Trên cơ sở những thông tin mới thu thập được, sau vài năm cần đánh giá lại đối với các loài. Kết quả của công việc này là: thay đổi về cấp phân hạng (tình trạng bị đe dọa) cho phù hợp; bổ sung hoặc đưa bớt một số loài ra khỏi Danh lục Đỏ - nếu thấy chúng không còn bị đe dọa nữa. Áp dụng quan điểm trên, trong quá trình nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam, chúng tôi đã có 3 lần bổ sung và đánh giá lại về tình trạng bị đe dọa đối với các loài trong Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam. Trên đây là 3 vấn đề có tính nguyên tắc và phương pháp luận trong việc xây dựng Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam.

Xây dựng Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam

1. Các bước tiến hành

Xác lập danh sách các loài dự kiến: Căn cứ vào kết quả điều tra nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống về nguồn tài nguyên cây thuốc trên toàn lãnh thổ Việt Nam và căn cứ vào các nguồn thông tin khác để lựa chọn ra một số loài, được cho rằng đã rơi vào một trong các tiêu chuẩn ở phần I (phần 2) kể trên. Số lượng loài lúc này nhìn chung là không hạn chế, nhưng chắc chắn sẽ nhiều hơn số loài sau khi được đánh giá để đưa vào Danh lục Đỏ. Để cho việc lựa chọn loài chính xác hơn, cần tổ chức các cuộc hội thảo, tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp... có liên quan hoặc có hiểu biết về cây thuốc. Đây cũng là hình thức thu thập thông tin về các loài cây thuốc dự kiến sẽ đưa vào Danh lục Đỏ. Đánh giá tình trạng bị đe dọa: Như trên đã đề cập, Phiếu dữ liệu là dùng để thu thập và hệ thống hóa thông tin cho tất cả các loài trong Danh sách sự kiến trên. Với các thông tin đầy đủ trong Phiếu dữ liệu, đối chiếu với các tiêu chuẩn trong khung phân hạng của IUCN, chúng ta có thể đánh giá và xếp hạng tình trạng bị đe dọa đối với các loài. Những phiếu không hội đủ các thông tin và không thể sắp xếp vào bất cứ thứ hạng nào trong khung phân hạng của IUCN thì tạm thời không đưa vào Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam. Cấu tạo Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam: Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam được xây dựng theo loài trong các taxon bậc chi, họ và ngành thực vật. Mỗi loài gồm có các thông tin về tên gọi của cây thuốc (thông dụng, tên khác, tên khoa học, đồng danh...); bộ phận dùng, công dụng; cơ sở để phân hạng. Kết quả phân hạng (kèm theo kết quả phân hạng trước đó, trong Sách Đỏ Việt Nam và thế giới).

2. Kết quả xây dựng Danh lục Đỏ cây thuốc ở Việt Nam

Trong quá trình tham gia nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam, ngay từ năm 1984 đến 1995, chúng tôi đã có những công bố về những loài cây thuốc cần bảo vệ ở nước ta [5,6]. Có thể coi đây là tiền thân về Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam. Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam được biên soạn tương đối hoàn chỉnh lần đầu tiên vào năm 1996 bao gồm 128 loài thuộc 59 họ thực vật bậc cao có mạch. Từng loài được đánh giá theo khung phân hạng đầu tiên của IUCN. Phần lớn các loài cây thuốc của Danh lục Đỏ lần thứ nhất này được lựa chọn đưa vào Sách Đỏ Việt Nam, Phần Thực vật, 1996. Đến năm 2001, sau khi nghiên cứu kỹ các tiêu chuẩn trong khung phân hạng của IUCN năm 1994 và xây dựng lại phiếu dữ liệu cho các loài, tập Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam năm 2001 (lần thứ 2) đã được xây dựng, với tổng số 114 loài, đánh giá theo tiêu chuẩn khung phân hạng IUCN (1994). Trong danh lục này tạm thời chưa có một số loài cây thuốc thuộc ngành Thông (Pinophyta) do chưa đủ dẫn liệu để xem xét. Mặc dù vậy, phần lớn các loài trong số 114 loài cây thuốc trong Danh lục Đỏ lần này đã được biên soạn trong Sách Đỏ Việt Nam, Phần Thực vật, năm 2007. Cũng vào năm 2001, IUCN tiếp tục ban hành khung phân hạng mới (lần thứ 3). Nhìn chung các thứ hạng và tiêu chuẩn trong khung phân hạng mới này, về cơ bản vẫn giống như khung IUCN (1994), nhưng đã bổ sung nhiều tiêu chí phụ, cụ thể hơn cho các thứ hạng CR, EN và VU. Sau vài năm nghiên cứu và hệ thống lại các phiếu dữ liệu, theo tiêu chuẩn của khung phân hạng IUCN (2001), bản Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam 2006 được công bố gồm 139 loài thuộc 58 họ thực vật bậc cao có mạch. Tất cả các loài trong Danh lục Đỏ được đánh giá theo khung phân hạng IUCN (2001). Riêng một số loài cây thuốc bị đe dọa thuộc ngành Thông (Pinophyta) được đưa vào nhờ kế thừa kết quả đánh giá của Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Nguyễn Đức Tố Lưu và cộng sự (2005). Đến năm 2007, trong khi biên soạn cuốn "Cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam", chúng tôi có dịp bổ sung thông tin, nâng số loài trong Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam lên 144 loài, thuộc 58 họ thực vật bậc cao có mạch. Trong cuốn cẩm nang này, thuộc ngành Lá thông (Psilotophyta): 1 loài; ngành Thông đất (Lycopodiophyta): 1 loài; ngành Dương xỉ (Polypodiophyta): 2 loài; ngành Thông (Pinophyta): 17 loài; ngành Ngọc lan (Magnoliophyta): 123 loài. Tất cả các loài trong Danh lục Đỏ đã được đánh giá về mức độ bị đe dọa theo IUCN (2001) cụ thể như sau: Thuộc cấp CR (Critically Endangered) có 18 loài. Ví dụ: Ba gạc hoa đỏ (Rauvolfia serpentina (L.) Benth. ex Kurz): CR.B2a,b(ii,iii,iv,v); Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus Seem.) và Tam thất hoang (Panax stipuleanatus Tsai et Feng): CR.A1c,d; Hoàng liên núi cao (Berberis kawakami Hayata): CR.B2a,b(ii,iii). Thuộc cấp EN (Endangered) có 57 loài. Ví dụ: Hoa tiên (Asarum petelotii O.C. Schmidt.): EN.A2c,d.B2a,b(ii,iii,iv,v); Kim ngân lá to (Lonicera hildebrandiana Coll. et Hemsl.): EN.B2a,b(ii,iii,iv,v); Sơn đậu căn (Sophora subprostrata Chun et Chen): EN.A3c,d; Hoàng tinh vòng (Polygonatum kingianum Coll. et Hemsl.): EN.A1a,c,d.B2a,b(ii,iii,iv,v),... Thuộc cấp VU (Vulnerable) có 69 loài. Ví dụ: Tắc kè đá (Drynaria bonii C. Christ): Vu.A1c,d; Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus (L.) Voss.): VU.A1c,d.B2a,b(ii,iii,v); Thần phục (Homalomena pierreana Engl. (?)): VU.A1c,d.B2a,b(ii,iii,v); Dương đầu (Rhopalocnemis phalloides Junghun): VU.B2a,b(ii,iii,v)...

3. Vai trò của Danh lục Đỏ cây thuốc trong công tác bảo tồn ở Việt Nam

Trong tiến trình bảo tồn các loài sinh vật, xây dựng Danh lục Đỏ (Red List) và Sách Đỏ (Red Data Book) được coi là nhiệm vụ đầu tiên. Bởi lẽ, thông qua các tài liệu này, người ta có thể biết được số loài đang bị đe dọa và tình trạng của chúng, để từ đó có các biện pháp và kế hoạch kịp thời, nhằm cứu vãn các loài thoát khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng. Nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam cũng như vậy. Với 3 lần Danh lục Đỏ cây thuốc được công bố đã giúp cho ngành Y tế thường xuyên nắm được thông tin về các loài cây thuốc đang bị đe dọa. Hơn nữa, với kết quả đánh giá, phân hạng về tình trạng bị đe dọa (theo IUCN) đối với các loài còn là cơ sở khoa học để xác định đối tượng ưu tiên trong quá trình bảo tồn. Trên thực tế một số loài được xếp hạng ở cấp CR và EN đã được tập trung nghiên cứu trước, bao gồm các khâu điều tra khảo sát thu thập, xúc tiến việc bảo tồn In situ và bảo tồn Ex situ. Đặc biệt với vài loài có giá trị sử dụng và kinh tế cao còn được ưu tiên thành những đề tài, dự án riêng để đi sâu nghiên cứu bảo tồn, đồng thời với việc nhân giống, phát triển nhân trồng thêm tại chỗ. Như các loài Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Ngũ gia bì hương (Acanthopanax gracilistylus W.W. Smith), Sì to (Valeriana jatamansi Jones)...

Kết luận

Bảo tồn ĐDSH nói chung và bảo tồn cây thuốc nói riêng đang là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học và của Nhà nước Việt Nam. Trải qua hơn 20 năm chính thức tham gia vào công tác bảo tồn cây thuốc, chúng tôi đã chú trọng đi sâu nghiên cứu, thu thập thông tin để xây dựng Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam. Xét về mặt lý luận cũng như chất lượng của Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam, chắc chắn thông tin là chưa đầy đủ. Song, nhìn chung đây là những cơ sở khoa học đáng tin cậy, góp phần vào công tác bảo tồn cây thuốc ở nước ta hiện nay.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) và nhiều tác giả, 1996: Sách Đỏ Việt Nam, Phần Thực vật. NXB. KH & KT, Hà Nội. 484 trang.
2. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) và nhiều tác giả, 2007: Sách Đỏ Việt Nam, Phần Thực vật; NXB. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội. 611 trang.
3. Nguyễn Bá Hoạt, Nguyễn Tập, Ngô Quốc Luật, 1998: Tạp chí Dược liệu. 3(4): 99-101.
4. Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Nguyễn Đức Tố Lưu, Philip Ian Thomas, Aljos Farjon, Leonid Averyanov và Jacinto Regalado, 2005: Thông Việt Nam: Nghiên cứu hiện trạng và bảo tồn 2004. NXB. Lao động. 129 trang.
5. Nguyễn Tập, 1984: Tạp chí Sinh học; tập 6 – số 13/1984: 16-19.
6. Nguyễn Tập, 1990. Tạp chí Hoạt động khoa học. 11: 23-24, 33.
7. Nguyễn Tập, 1996: Nghiên cứu bảo tồn những loài cây thuốc quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng ở Việt Nam. Luận án PTS khoa học Sinh học; Trường ĐH KHTN-ĐH Quốc gia Hà Nội.
8. Nguyễn Tập, 2001: Tạp chí Dược liệu. 6(2,3): 42-45; 6(4): 97-100.
9. Nguyễn Tập, 2006: Tạp chí Dược liệu. 11(3): 97-105.
10. Nguyễn Tập trong: Nguyễn Thượng Dong (chủ biên) và nhiều tác giả, 2006: Nghiên cứu thuốc từ thảo dược (Giáo trình Sau đại học). NXB. KH & KT, Hà Nội: 33-109.
11. Cunningham A. B. In: O. Kerel, V. Heywood & H. Synge, 1991: Conservation of Medicinal Plants. Cambridge University Press. Pp: 25-51.
12. Holsinger K. E., L. D. Gottlieb In: D. A. Falk & K. E. Holsinger, 1991: Genetic and Conservation of Rare plants. Oxford University Press. p: 195-208.
13. Nguyen Tap, 2007: Conservation of Medicinal Plants in Vietnam. In: Pharmacy for subtainable development. Proceeding of the fifth Indochina Conference on Pharmaceutical Sciences. Bangkok, Thailand. 1-5.
14. IUCN, 1994: IUCN Red List categories; IUCN-SSC, Gland, Switzeland and Cambridge, UK: 21 pp.
15. IUCN, 2001: IUCN Red List and criteria: Version 3.1; IUCN-SSC, Gland, Switzeland and Cambridge, UK: 24 pp.
16. IUCN, 2003: Guidelines for application of IUCN Red List criteria at Regional level: Version 3.0; IUCN-SSC; Gland, Switzeland and Cambridge, UK: 26 pp.

Nguyễn Tập
Viện Dược liệu

(Tuyển tập báo cáo Hội nghị Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 3, 22/10/2009 - Viên ST&TNSV - Viện KH&VN Việt Nam)

anhtai.bvn

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi


CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT

LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2014