Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với

TIN TỨC > CỔ TRUYỀN

Giới thiệu các loài Hạt trần ở Việt Nam: Thông nước

Cập nhật ngày 17/4/2009 lúc 11:18:00 AM. Số lượt đọc: 5235.

Thông nước (Glyptostrobus) được xếp vào Nhóm IA trong Danh mục các loài động vật và thực vật quí hiếm (Nghị định của Hội đồng bộ trưởng số 18‐HĐBT, 1992)12. Cùng với qui định này các khu bảo tồn và các kế hoạch đầu tư phải được thiết lập. Việc khai thác và sử dụng bị cấm. Việc bảo vệ hợp pháp hơn nữa loài này cũng đã được nêu trong Luật Bảo vệ môi trường13 nhằm quản lý việc phát triển ở các khu vực xung quanh. UBND tỉnh Đắc Lắc đã phê duyệt các khu bảo tồn cho cả hai quần thể này vào năm 1994. Các ban quản lý khu bảo tồn và các kế hoạch đầu tư cùng với các trạm bảo vệ đã được thiết lập (Tordoff et al., 2004).

http://www.ruhr-uni-bochum.de/boga/html/Glyptostrobus.pensilis.ja6.jpg

Thông nước - Glyptostrobus pen
ảnh theo ruhr-uni-bochum.de

http://www.dkimages.com/discover/previews/743/50008254.JPG
Cành mang quả
ảnh theo dkimages.com

Thông tin chung

Tên thường gọi: Thông nước
Tên khác: Thủy tùng
Tên tiếng  Anh: Water Pine
Tên khoa học: Glyptostrobus pensilis (Staunt.) K. Koch
Thuộc họ Trắc bách diệp - Cupressaceae

Hiện trạng bảo tồn

Hiện trạng quốc tế THIẾU THÔNG TIN

[ĐANG BỊ TUYỆT CHỦNG B1ab(i,iv), B2ab(i,iv), D]

Hiện trạng quốc gia hiện tại ĐANG BỊ TUYỆT CHỦNG

Hiện trạng quốc gia đề xuất qua đánh giá ĐANG BỊ TUYỆT CHỦNG TRẦM TRỌNG A2c, B1ab(i‐v), B2ab(i‐v), C1

Trên thế giới Thông nước được xếp ở mức Thiếu thông tin do không xác định rõ hiện trạng tự nhiên của các quần thể ở Trung Quốc. Mới đây, và một phần là do kết quả của việc làm rõ hiện trạng của loài tại Việt Nam nó đã được xếp ở mức Đang bị tuyệt chủng B1ab(i, iv) và B2ab(i, iv), D theo chỉ tiêu IUCN 2001 (Farjon et al., 2004b). Ở Việt Nam Thông nước (Glyptostrobus) cần được xếp ở mức Đang bị tuyệt chủng trầm trọng theo các chỉ tiêu A2c, B1ab(i‐v), B2ab(i‐v) và C1. Khu phân bố và nơi cư trú ít hơn so với chỉ tiêu tương ứng là 100 km2 và 10 km2. Hai quần thể còn lại này có thể được coi là bị chia cắt mạnh. Dựa trên những quan sát gần đây về hiện trạng sức sống của cây ở cả hai quần thể và mức độ của những mối đe doạ tuyệt chủng đã nêu có thể sẽ có mức suy giảm về diện tích, phạm vi và chất lượng của nơi sống . Tổng số cá thể còn lại ít hơn 250 cây trưởng thành và với mức tàn phá do lửa rừng hiện nay và dự tính thì có thể có mức suy giảm quần thể tiếp theo khoảng 25% trong vòng một thế hệ tới.


Thông nước (Glyptostrobus pensilis (Staunt.) K. Koch)

1, 3. Cành mang nón và các nón hạt.
2. Cành với các lá trưởng thành.
4. Hạt, mặt trước.
5‐6. Cành non và lá non.
(Phạm Văn Quang vẽ 1‐4 từ Thiện Căn & Minh Tuấn T031‐7095 và Vũ Văn Cần s.n., vẽ 5‐6 từ Vũ Văn Cần s.n.).

Mô tả

Cây gỗ mọc đứng có tán hình tháp và trở nên rộng hơn khi già, cao tới 20 m và đường kính ngang ngực tới 1 m, các cành nhỏ nhất thường rụng. Các rễ khí sinh thường mọc quanh gốc, gốc hơi có bạnh vè. Thông nước gặp trong rừng đầm lầy thường xanh rậm với các loài cây ưu thế là Syzygium, Dipterocarpus obtusifoliusElaeocarpus (nhiệt độ trung bình năm 22‐24oC, lượng mưa 1300‐1800 mm) trên nền đá bazan ở độ cao 550 – 750 m trên mặt biển. Không có loài Thông nào khác cùng mọc tự nhiên ở những nơi này. Chưa quan sát thấy tái sinh tự nhiên.

Phân bố


Phân bố tại Việt Nam

Ở Việt Nam Thông nước chỉ được biết có ở Đắc Lắc (Ea Hʹleo, Krông Năng). Loài có thể có phân bố rộng hơn trong quá khứ, ít nhất là ở Gia Lai và Lâm Đồng. Phần lớn các thông tin về loài ở Đông Nam Trung Quốc là về các cây trồng hoặc cây trồng đã hoang dại hoá. Tuy nhiên ở đó vẫn có thể có các khu vực có các quần thể nguyên thuỷ hoặc các quần thể còn sót lại. Hiện trạng này làm cho việc đánh giá cho loài này ở mức quốc tế rất khó khăn. Thông tin về hiện diện của loài này ở tỉnh Khăm Muộn của Lào mới chỉ là dựa trên các báo cáo không có bằng chứng của các cán bộ lâm nghiệp Việt Nam (Thomas et al., 2004d).

Công dụng

Trước đây Thông nước được dùng làm nhà và đồ mỹ nghệ. Ở Trung Quốc gỗ của các cây đổ tự nhiên được dùng đóng thuyền và làm cầu do chịu ngâm. Cây có dạng sinh trưởng rất hấp dẫn và thích hợp cho trồng gần bờ ao hồ. Ở Trung Quốc cây thường được trồng ven các bờ đê để giữ đất (Fu Li‐kuo et al., 1999d).

Các mối đe doạ

Ở Việt Nam Thông nước mọc ở hai khu BTTN nhỏ, bao bọc bởi các vườn cà phê. Khu phân bố và nơi cư trú của loài này do vậy rõ ràng tương ứng nhỏ hơn 100 km2 và 10 km2. Tổng số cây ước tính ít hơn 250 cây trưởng thành. Cả hai quần thể đều đang giảm về số lượng và gặp những đe doạ lớn do cháy rừng và những thay đổi của nơi sống, chủ yếu là do chuyển đổi nơi sống thành đất nông nghiệp.

Sự hiện diện trong các khu bảo tồn

Quần thể lớn nhất (khoảng 220 cá thể) nằm trong khu bảo tồn nhỏ khoảng 50 ha ở Earal và quần thể thứ hai (khoảng 34 cá thể) nằm trong một khu vực bảo tồn lớn hơn (100 ha) ở Trấp Kso.

Các biện pháp bảo tồn đã thực hiện

Thông nước (Glyptostrobus) được xếp vào Nhóm IA trong Danh mục các loài động vật và thực vật quí hiếm (Nghị định của Hội đồng bộ trưởng số 18‐HĐBT, 1992)12. Cùng với qui định này các khu bảo tồn và các kế hoạch đầu tư phải được thiết lập. Việc khai thác và sử dụng bị cấm. Việc bảo vệ hợp pháp hơn nữa loài này cũng đã được nêu trong Luật Bảo vệ môi trường13 nhằm quản lý việc phát triển ở các khu vực xung quanh. UBND tỉnh Đắc Lắc đã phê duyệt các khu bảo tồn cho cả hai quần thể này vào năm 1994. Các ban quản lý khu bảo tồn và các kế hoạch đầu tư cùng với các trạm bảo vệ đã được thiết lập (Tordoff et al., 2004).

Hoạt động bảo tồn đề xuất

Diện tích các khu bảo tồn và kích thước các quần thể Thông nước còn lại đã quá nhỏ để có thể bảo vệ loài khỏi những tác động khó tránh khỏi về lâu dài như lửa rừng. Do việc chặt phá các khu vực xung quanh diễn ra mạnh nên đã không còn khả năng nối các khu vực này với những vùng rừng thích hợp khác. Mặc dù vậy, những nỗ lực bảo tồn tại chỗ cần tiếp tục được duy trì, đặc biệt là vì quần xã đầm lầy (nhất là ở Earal) có thể là một dạng quần xã mà không còn tồn tại ở bất kỳ nơi nào khác. Cần thiết tiến hành điều tra toàn diện cả hai khu bảo tồn trước khi có thể đánh giá được giá trị tiềm tàng của những khu vực này.

Hiện trạng đáng báo động của các cây Thông nước còn lại làm cho công tác bảo tồn chuyển vị là cấp thiết. Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam (FSIV) đã có những nỗ lực nhằm thu thập cho bảo tồn chuyển vị trong nhiều năm. Hạt giống đã được thu hái nhiều lần nhưng theo dõi thấy không có khả năng nảy mầm. Những thử nghiệm nhân giống sinh dưỡng được FSIV tiến hành nhưng tỷ lệ thành công không cao mà nguyên nhân chính có lẽ là do phần lớn các cây đều đã già và luôn thiếu vật liệu cho nhân giống. Chỉ một số lượng nhỏ các dòng đã tạo được rễ thành công và đang được gây trồng tại Trung tâm lâm sinh của FSIV ở Đà Lạt. Nếu những dòng này có thể trồng được thì những kỹ thuật khác có thể được áp dụng để tạo ra vật liệu cho bảo tồn chuyển vị. Nghiên cứu ở Vườn thực vật Hoàng gia Edinburgh (RBGE) đã sử dụng kỹ thuật thúc hoa và thành công trong việc tạo hạt hữu thụ cho loài này. Nuôi cấy mô là một giải pháp khác (Thomas et al., 2004d).

Nguồn:Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Nguyễn Đức Tố Lưu, Philip Ian Thomas, Aljos Farjon, Leonid Averyanov và Jacinto Regalado Jr. "Thông Việt Nam, nghiên cứu hiện trạng và bảo tồn"

Anhtai.bvn

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi

SÁCH THAM KHẢO

CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT

SÁCH THAM KHẢO

LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2019