Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với

TIN TỨC > CÂY TRỒNG

Cây nhãn - Công dụng và kỹ thuật trồng

Cập nhật ngày 24/3/2009 lúc 10:43:00 AM. Số lượt đọc: 3724.

Nhãn có nguồn gốc ở Ấn Độ, được trồng ở miền Nam Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam. Là loại cây dễ trồng, mọc nhanh, thích hợp với đất thịt pha cát, nơi có lớp đất canh tác sâu. Có thể trồng bằng hạt, bằng cành chiết hay ghép cây. Độ 4-5 năm thì có quả, thời gian cho quả cũng rất lâu. Thu hoạch vào khoảng tháng 6-8...

Thông tin chung

Tên thường gọi: Nhãn
Tên khác: Lệ chi nô, mạy ngận, mác nhan (Tày), quế viên (桂圆) (Trung Quốc), lengkeng (Indonesia), mata kucing (Mã Lai)
Tên tiếng Anh: Longan
Tên khoa học: Dimocarpus longan Lour.
Thuộc họ Bồ hòn - Sapindaceae

Mô tả

Cây cao 5-10m, tán lá tròn xoè ra và rậm rạp, cành non có lông. Vỏ cây xù xì, có màu xám. Thân nhiều cành, lá um tùm xanh tươi quanh năm. Lá kép hình lông chim, mọc so le, gồm 5 đến 9 lá chét hẹp, nhẵn, mặt dưới màu thẫm hơn mặt trên, dài 7-20 cm, rộng 2,5-5 cm. Mùa xuân vào các tháng 2, 3, 4 ra hoa màu vàng nhạt, xếp thành chuỳ mọc ở ngọn cành và ở nách lá, màu vàng nhạt, đài 5-6 răng, tràng 5-6, nhị 6-10, bầu 2-3 ô. Quả tròn có vỏ ngoài màu vàng xám, hầu như nhẵn. Hạt đen nhánh, có áo hạt màu trắng bao bọc. Mùa quả là vào khoảng tháng 7-8. Cây nhẫn tương đối chịu rét hơn so với các cây cùng họ như vải, đồng thời cũng ít kén đất hơn.

Một số nhóm giống phổ biến: nhãn trơ cùi (cùi rất mỏng); nhãn nước (nhiều nước); nhãn lồng (nhãn gần chín phải dùng lồng bằng tre, nứa giữ cho chim, dơi khỏi ăn, cùi dày và mọng); nhãn tà, nhãn cám (D. longan Lour. subsp. longan var. obtusa (Pierre) Leenh.) có quả ăn được và dùng làm thuốc như Nhãn và vỏ cũng dùng chữa vết thương và cầm máu.

Nơi sống và thu hái

Gốc ở Ấn Độ, được trồng ở miền Nam Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam. Nhãn dễ trồng, mọc nhanh, thích hợp với đất thịt pha cát, nơi có lớp đất canh tác sâu. Có thể trồng bằng hạt, bằng cành chiết hay ghép cây. Độ 4-5 năm thì có quả, thời gian cho quả cũng rất lâu. Vào tháng 6-8, khi Nhãn chín, thu về, phơi nắng hay sấy cho cùi vàng đều thì lột cùi, phơi tiếp đến khô thì dùng. Hạt dùng phơi khô. Rễ và lá thu hái quanh năm. Tại Việt Nam, nhãn lồng Hưng Yên là đặc sản nổi tiếng.

Thành phần hoá học

Cùi Nhãn còn tươi có các thành phần sau, tính theo %: nước 77,15, tro 0,01, chất béo 0,13, protid 1,47, hợp chất có nitrogen tan trong nước 20,55, đường saccharose 12,25, vitamin A và B. Cùi Nhãn khô chứa nước 0,85, chất tan trong nước 79,77, chất không tan trong nước 19,39, tro 3,36. Trong phần tan trong nước có glucose 26,91%, saccharose 0,22%, acid tartric 1,26%, chất có nitrogen 6,309%. Hạt Nhãn chứa tinh bột, saponin, chất béo và tanin. Lá chứa quercetrin, quercetin, tanin.

Thành phần dinh dưỡng (trong 100 g phần tươi ăn được):

Giá trị năng lượng: 458KJ/100 g
Nước 72,4%                                          Phốt pho: 6,0 mg
Protein: 1,0 g                                        Sắt: 0,3 mg
Chất béo: 0,5 g                                    Vitamin A: 28,0 IU.
Hydrat cacbon: 25,2g                            Vitamin B1: 0,04 mg.
Chất xơ: 0,4                                         Vitamin PH: 0,6mg.
Canxi: 2,0mg                                        Vitamin C: 8,0 mg.

Công dụng

Ăn tươi, đông lạnh, đồ hộp, sấy khô, nước giải khát, làm rượu … Nhãn sấy khô làm long nhãn là thuốc bổ, thuốc an thần, điều trị suy nhược thần kinh, chứng sút kém trí nhớ, mất ngủ hay hoảng hốt. Hạt nhãn, vỏ quả nhãn dùng àm thuốc trong đông y. Nhãn là cây nguồn mật quan trọng có chất lượng cao. Gỗ nhãn non có thể làm thức ăn gia súc, hạt nhãn có thể làm hồ, chế rượu … Ăn tươi, đông lạnh, đồ hộp, sấy khô, nước giải khát, làm rượu …Nhãn sấy khô làm long nhãn là thuốc bổ, thuốc an thần, điều trị suy nhược thần kinh, chứng sút kém trí nhớ, mất ngủ hay hoảng hốt.Hạt nhãn, vỏ quả nhãn dùng àm thuốc trong đông y.Nhãn là cây nguồn mật quan trọng có chất lượng cao.Gỗ nhãn non có thể làm thức ăn gia súc, hạt nhãn có thể làm hồ, chế rượu …


Tính vị, tác dụng

Cùi Nhãn có vị ngọt, tính ấm; có tác dụng bổ tâm, an thần, kiện tỳ, làm tăng cơ nhục. Hạt có vị mặn, tính bình, có tác dụng thu liễm chỉ huyết. Lá có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm. Rễ có tác dụng lợi tiểu và hoạt huyết.

Công dụng, chỉ định và phối hợp

Các bộ phận khác nhau của Nhãn được dùng như sau:

- Cùi Nhãn dùng chữa trí nhớ suy giảm hay quên, tư lự quá độ mất ngủ, thần kinh suy nhược, tâm thần mệt mỏi hồi hộp, hoảng hốt, gan kém, tỳ kém, huyết hư, rong kinh, ốm yếu sau khi bị bệnh. Dùng 9-15g. Trong tiếng Trung, cùi nhãn khô được gọi là viên nhục (圓肉), nghĩa là "cục thịt tròn".

- Rễ chữa dưỡng trấp niệu, bạch đới, thống phong. Dùng 15-30g.

- Lá dùng ngừa sởi, trị cảm lạnh, sốt rét, viêm ruột. Dùng 10-15g. Lá nấu nước tắm trị eczema bìu dái.

- Hạt dùng trị đau dạ dày, đau thoát vị, mụn nhọt và bỏng, vết thương chảy máu. Dùng 10-15g dạng thuốc sắc. Đồng thời tán bột, hoà với dầu Dừa dùng bôi vào chỗ đau.

- Vỏ cây và vỏ quả dùng chữa bỏng, chữa sâu răng. Đốt, tán bột hay nấu cao bôi.

Kỹ thuật nhân giống

Gieo hạt (chủ yếu để làm gốc ghép)

Hạt lấy về cần xử lý gieo ngay. Ngâm hạt nửa ngày, vớt ra , ngâm vào nước vôi trong, sau 2 - 3 giờ vớt ra, ủ vào đất cát ẩm 2 - 4 ngày. Khi ngâm hạt nhú ra đem gieo. Chiết cành: Đường kính gốc cành chiết 1,0 - 1,5 cm, dài 40 - 60cm. Sau khi hạ cành, nên tháo bỏ giấy PE, quấn thêm ra ngoài bầu chiết một lớp bùn rơm, để cho đến khi rễ nhú ra ngoài lớp bùn rơm, để cho đến khi rễ nhú ra ngoài lớp bùn rơm này mới đem trồng. - Ghép: Chọn giống nhãn tốt, quả to, cùi dày, hạt bé, ra quả đều lấy làm mắt ghép. Ghép vào tháng 3 đến tháng 4 hoặc tháng 9 - 10 (cần thời tiết khô ráo, mát mẻ). Chọn cành ghép 1 - 2 tuổi. Sau 2 - 3 năm trên đất tốt đã cho quả; 4 - 5 năm cho thu hoạch tốt. Đất: Đất phù sa (thích hợp nhất), đất cát ven biển, đất gò đồi trung du hay đất núi, pH = 4,5 - 6,0.

Khí hậu

Nhiệt độ thích hợp cho nhãn sinh trưởng và phát triển 21 - 27 độ C; mùa hoa nở cần nhiệt độ cao 25 - 31 độ C; Mùa Đông cần một thời gian nhiệt độ thấp để phân hoá mầm hoa.

Kỹ thuật trồng

Giống: Giống địa phương; Nhãn lồng, nhãn đường phèn, nhãn nước, nhãn Vĩnh Châu, nhãn tiêu. Giống nhập nội: Đại Ô Viên (Trung Quốc), nhãn Thạch Hiệp (Trung Quốc). Khoảng cách và mật độ trồng: 8 m x 8 m (160 cây/ha) hoặc 7m x 7 m; hoặc 4 m x 4 m hoặc 5 m x 5 m (khi cây giao tán thì tỉa bớt đi 1 hàng).

Thời vụ trồng

Miền Bắc: tháng 2 - 3 và tháng 8 - 9

Miền Nam: Đầu và cuối mùa mưa

Chăm sóc, thu hoạch

- Bón phân: Mỗi năm bón thúc cho cây 3 lần (kg/cây)

- Tưới nước: Là cây chịu hạn, thích ẩm, sợ đọng nước. Thang đầu tiên sau trồng tưới 1 - 2 ngày/lần; 2-3 ngày/1 lần ở tháng thứ 2. Sau đó chỉ quá khô hạn mới cần tưới cho cây.

- Tỉa cành tạo tán: Cắt tỉa tạo hình sao cho cây thấp để dễ chăm sóc. Tiến hành cắt tỉa sau khi thu hoạch quả muộn hơn - cắt vỏ những cành yếu, cành sâu bệnh, cành mọc lộn xộn trong tán.

- Phòng trừ sâu bệnh: Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo chỉ dẫn trên nhãn bao bì của từng loại thuốc.

+ Bọ xít: Phun Basudin 0,2% hoặc Diazinnon 0,04%; Dipterex 0,015 - 0,1%, Trebon 0,15-0,2% (Phun 2 đợt liền nhau cách nhau một tuần vào khoảng cuối tháng 4).

+ Sâu tiện vở nhãn: Dùng thuốc bơm vào lỗ đục hoặc dùng gai mây để bắt. Dùng nước vôi đặc quệt lên gốc cây.

+ Rệp sáp: Dung Dimecron, BI58 (0,15 - 0,28%).

+ Dơi, Rốc: Bó các chùm nhãn trong giấy cứng, bao cói, mo cau, túi PE để bảo vệ quả.

+ Nhện hái lá: Phun Nuvacron 0,2%.

+ Rầy hại hoa: Dipterex 0,2% và Trebon 10 ND 0,15 - 0,2%.

+ Dòi đục cành hoa: Phun bằng Monitor 0,2%, Trebon 0,15%.

+ Bệnh sương mai (mốc sương): Phun Bordeau 1% hoặc Ridomil

- MZ 0,2%, Anvil 0,2%, Score 0,1%, hoặc hỗn hợp Ridomil - MZ 0,2% + Anvil 0,2%. Phun 2 lần (lần 1: khi cây ra giò; lần 2: khi giò hoa nở 5 - 7 ngày).

Thu hoạch

Khi vỏ quả chuyển từ màu nâu hơi xanh màu nâu sáng, vỏ quả hơi sù sì hơi dày chuyển sang mọng và nhẵn, bóc quả xem thấy hạt có màu nâu đen thì có thể thu hoạch. Nên thu hoạch quả vào ngày tạnh ráo, vào buổi sáng và buổi chiều. Không cắt trụi hết cành lá của cây vì có thể ảnh hưởng đến khả năng nảy lộc vụ sau.

H.G Trinh (bvn member)

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi


CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT



LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2014