Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với

TIN TỨC > PHÂN LOẠI THỰC VẬT

Những dẫn liệu về đặc điểm hình thái của loài bách xanh núi đá tại Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình

Cập nhật ngày 21/2/2009 lúc 11:13:00 AM. Số lượt đọc: 1141.

Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (PN- KB) là khu địa lý rất đa dạng với nhiều cảnh đẹp trải rộng tới 65 km, bao gồm các hang động và sông ngầm. Quần thể Bách xanh trên núi đá vôi ở Phong Nha – Kẻ Bàng được phát hiện vào năm 2004, bước đầu được các chuyên gia thực vật học trong và ngoài nước xác định là Bách xanh núi đá, với tên khoa học là Calocedrus rupestris Aver, thuộc họ Hoàng đàn - Cupressaceae

Đặt vấn đề

Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (PN- KB) là khu địa lý rất đa dạng với nhiều cảnh đẹp trải rộng tới 65 km, bao gồm các hang động và sông ngầm. Khu bảo tồn được bao phủ bởi rừng nhiệt đới, với sự đa dạng sinh học cao và có nhiều loài động, thực vật đặc hữu. Trong một thời gian ngắn, Trung tâm nghiên cứu khoa học và cứu hộ động vật hoang dã của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã liên tiếp phát hiện ra những bí mật của thế giới động - thực vật có ý nghĩa rất lớn về mặt khoa học, trong đó điều có ý nghĩa nhất là việc tìm ra quần thể Bách xanh núi đá lớn chưa từng thấy. Đây là loài cây đặc hữu chỉ có ở Việt Nam, vì trên thế giới chỉ có ba loài Bách xanh được nhận diện.

Quần thể Bách xanh trên núi đá vôi ở Phong Nha – Kẻ Bàng được phát hiện vào năm 2004, bước đầu được các chuyên gia thực vật học trong và ngoài nước xác định là Bách xanh núi đá, với tên khoa học là Calocedrus rupestris Aver, thuộc họ Hoàng đàn - Cupressaceae. Nhưng đó mới chỉ là những phỏng đoán dựa vào kinh nghiệm, ngoài ra chưa có thông tin nào được công bố. Chính vì vậy, việc mô tả chính xác đặc điểm hình thái của loài cây này sẽ là cơ sở quan trọng để định loại tên khoa học, một việc làm cần thiết và có ý nghĩa không chỉ cho khoa học mà còn riêng cho Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp được áp dụng là quan sát, mô tả, chụp hình và vẽ mô phỏng hình thái: Thân – Lá – Nụ chồi – Nón đực, Nón cái,… Thu thập các thông tin về kích thước, màu sắc, các đặc điểm phân biệt chúng với các loài khác trong họ (Cupressaceae). Các đặc điểm vật hậu học như thời kỳ ra nón được ghi chép qua 3 thời kỳ: bắt đầu, thịnh hành và ngừng. Điểm quan sát được đặt tại ô tiêu chuẩn có tọa độ địa lý 170 24,247’ N – 1060 13,237’ E. Đối tượng quan sát là quần thể Bách xanh trên núi đá chưa bị tác động. Thời kỳ theo dõi từ tháng 2 năm 2006 đến tháng 11 năm 2006 (trùng với thời kỳ ra nón của loài Bách xanh ở đây).

Kết quả nghiên cứu

Trong quá trình điều tra thu thập mẫu, qua phân tích so sánh với một số loài Bách xanh khác, đặc biệt là loài Bách xanh núi đá tìm thấy ở gần làng Nà Bồ thuộc xã Liêm Thủy, huyện Na Rì, ở phía Nam của tỉnh Bắc Cạn [1], chúng tôi thấy loài Bách xanh ở đây mang nhiều đặc điểm rất khác.

- Bách xanh núi đá phân biệt rõ với loài được tìm thấy ở Bắc Cạn ở kích thước và hình dạng nón. Nón đực ở đây có kích thước to lớn hơn nhiều, nhưng về hình dạng thì chưa thấy khác biệt mấy. Nón cái phân biệt rõ bởi kích thước lớn hơn 2–3 lần và cuống nón rất dài.

- So với Bách vàng - Xanthocyparis vietnamensis (cũng là loài sống trên núi đá vôi), Bách xanh núi đá Phong Nha - Kẻ Bàng có hình dạng lá đồng nhất trên các loại cành, trong lúc ở Bách vàng, cành mang nón có lá hình kim, cành dinh dưỡng có lá hình vảy.

- So với Bách xanh - Calocedrus macrolepis, Bách xanh núi đá Phong Nha - Kẻ Bàng có chóp lá tù và rộng, trong lúc ở Bách xanh - Calocedrus macrolepis có chóp lá nhọn và thu hẹp dần. Ngoài ra, có thể dễ dàng phân biệt qua kích thước và hình dạng của hạt.

- So với Bách xanh núi đá - Calocedrus rupestris, nón cái của Bách xanh núi đá Phong Nha - Kẻ bàng có cuống dài gấp đôi.

* Sau đây là các đặc điểm hình thái và sinh học của loài Bách xanh núi đá Phong Nha - Kẻ Bàng chúng tôi điều tra được ở hiện trường:

Đây là loài cây gỗ lớn thường xanh, chiều cao cây có thể đạt tới trên 30m, đường kính thân đạt tới hơn 1m. Tán tròn, rộng có hình dạng rất đẹp. Các cành nhỏ xếp trên một mặt phẳng, dàn trải và lớn dần, dẹt, các đốt cành nhau khá rõ.

Lá dạng đốt, chóp lá tù hoặc tù rộng. Lá non được hình thành từ chóp lá, mỗi chóp lá có thể hình thành một hoặc hai lá non mới, dàn trải và lớn dần, kích thước lá khoảng 2,5–4,5mm3–5mm. Lá dẹt và lớn dần, thường thấy ở cây con kích thước lá lớn hơn cây trưởng thành.

Nón đơn tính cùng gốc, nón cái mọc đầu cành, nón đực có thể mọc đầu cành hoặc ở nách lá. Hình thái nón đực, nón cái phân biệt nhau rất rõ. Kết quả thu thập từ các đợt điều tra cho thấy thời gian bắt đầu ra nón vào đầu tháng 2 và kết thúc vào khoảng tháng 4, thời điểm thịnh hành nhất vào khoảng cuối tháng 2 đến đầu tháng 3. Thời gian tồn tại của nón đực rất ngắn, khoảng 15–20 ngày. Nón cái chín vào cuối tháng 10 đầu tháng 11. Nón đực và nón cái phân biệt nhau rất rõ.

Nón đực khi chín có màu đỏ hồng, kích thước tại thời kỳ nón chín (kích thước lớn nhất) đo được từ 6–8,5mm x 1,5–2,5 mm. Hình dạng nón rất giống nón Thông, các vảy (lá tiểu bào tử) đính xung quanh một trục hóa gỗ. Mỗi nón mang từ 18–20 vảy hình trái tim, mỗi vảy mang từ 2–5 bao phấn hình tròn hoặc hình bầu dục. Trong mỗi bao phấn chứa vô số các hạt phấn rất nhỏ, khi chín bao phấn nứt đôi ra và tung hạt phấn bay ra ngoài. Thời gian tồn tại của nón đực khoảng từ 15–20 ngày, sau khi chín và tung phấn, nón đực khô và rời khỏi cành.

Nón cái màu xanh, kích thước tương đối lớn so với các loài khác trong cùng họ: 14-18mm x 9–12mm, với cuống nón rất dài: 8–10,5mm, có khoảng 20–22 vảy tù. Vảy có hình dạng gần giống với vảy ở nón đực nhưng kích thước nhỏ hơn, chóp nhọn, lõm sâu vào trong và xếp với nhau rất chặt. Quả nón chín tách làm 3 phần, hai mảnh bên và phần giữa, mỗi bên mang 2 hạt có cánh xếp song song và cánh chồng khít lên nhau. Khi non, hạt có màu xanh và khi chín hạt có màu cánh gián. Kích thước hạt 3,5–4 mm x 5,5–8 mm và nếu tính cả phần cánh hạt thì kích thước của nó lên tới 5–6 mm x 9–12 mm. Đây là một điều kiện thuận lợi cho sự phát tán hạt nhờ gió.

Đây là loài cây có khả năng cho nhựa giống như các loài cây cho tinh dầu khác, do vỏ có nhiều ống dẫn nhựa lớn, nhựa có mùi tinh dầu xá xị rất thơm, rất có giá trị. Gỗ màu vàng nhạt, vân có màu vàng nâu, gỗ rất cứng và chứa nhiều tinh dầu.

Kết luận

Quần thể Bách xanh trên núi đá vôi là một phát hiện mang tính khoa học rất có ý nghĩa trong công tác bảo tồn nguồn gen và bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Đây là phát hiện mới được rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có thông tin nghiên cứu nào mang tính chuyên sâu về quần thể Bách xanh trên núi đá này được công bố.

Qua kết quả nghiên cứu, so sánh với một số loài khác trong họ Hoàng đàn (Cupressaceae) chúng tôi thấy đây là một loài hoàn toàn mới và cũng là một phát hiện mới nhất về loài cây này kể từ trước đến nay. Với những dẫn liệu hình thái, nhất là hình thái cơ quan sinh dục vừa nêu, chúng tôi thấy rằng cần xem xét lại tên Latin Calocedrus rupestris Aver đã được một số nhà khoa học đặt cho loài cây này. Bởi lẽ rằng, hình thái nón của loài này cũng không hoàn toàn trùng khớp với loài Bách ở Phong Nha-Kẻ bàng. Từ nghiên cứu thực tiễn, chúng tôi kiến nghị có thể đặt tên cho loài mới này là: Bách xanh Việt Nam (Calocedrus vietnamensis).

Lê Thị Diên Đỗ Xuân Cẩm Trần Trung Dũng
(TC NN-PTNT No10+11/2007)

Anhtai.bvn

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi


CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT



LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2014