Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với

TIN TỨC > BẢO TỒN THIÊN NHIÊN

Đa dạng sinh học Vườn Quốc gia Tam Đảo

Cập nhật ngày 9/1/2009 lúc 9:40:00 AM. Số lượt đọc: 4672.

Vuờn quốc gia Tam Đảo với sự đa dạng về đất đai và khí hậu đã tạo nên các hoàn cảnh lập địa khác nhau, nhiều tiểu vùng sinh thái... Chính vì thế hệ động thực vật rừng ở đây rất phong phú (khoảng 2000 loài thực vật, 840 loài động vật), nhiều loài đặc hữu và quí hiếm.

Để vườn quốc gia Tam Đảo phát huy hết tiềm năng giá trị, cùng với sự tăng cường đầu tư của Nhà nước, các cấp chính quyền và cộng đồng dân cư trong vùng cần thấy được lợi ích và trách nhiệm cùng gìn giữ tài sản quí giá này.

Vườn quốc gia Tam Đảo nằm trọn trong dãy núi Tam Đảo, đây là một dãy núi lớn dài trên 80 km, rộng từ 10 ( 15 km chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, thuộc địa phận của 3 tỉnh; Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Dãy núi Tam Đảo có trên 20 đỉnh cao từ 1000 m trở lên so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh Tam Đảo Nord 1592 m . Địa hình ở đây có đặc điểm là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu, dày bởi nhiều dông phụ gần như vuông góc với dông chính. Núi Tam Đảo từ xưa đã được che phủ bởi một lớp thảm thực vật dày đặc, nhiều tầng và đa dạng về loài, đa dạng về quần xã sinh học và hệ sinh thái. Các yếu tố chính đã góp phần tạo nên sự đa dạng này là đất đai, khí hậu...

Về yếu tố đất đai, đã điều tra được 4 loại đất chính gồm:

- Đất Feralit mùn vàng, phát triển trên đá Macma axit, loại đất này xuất hiện ở độ cao từ 700 m trở lên, có diện tích là 8968ha, chiếm 24,31% diện tích của Vườn.

- Đất Feralit mùn vàng đỏ phân bố trên núi thấp, phát triển trên đá Macma kết tinh, loại đất này có diện tích 9292ha, chiếm 25,19% diện tích và xuất hiện ở độ cao từ 400m ( 700m.

- Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên nhiều loại đá khác nhau, loại đất này thường thấy ở độ cao từ 100 ( 400m, có diện tích là 17606ha, chiếm 47,33% diện tích Vườn.

- Đất dốc tụ và phù sa, loại đất này ở độ cao từ 100m trở xuống, thường thấy ở ven chân núi, thung lũng hẹp, ven sông suối lớn, có diện tích là 1017ha, chiếm 2,76% diện tích Vườn.

 Về yếu tố khí hậu, Vườn quốc gia Tam Đảo nằm trong vùng khí hậu ẩm, nhiệt đới. Với dãy núi cao, chạy dài, tạo ra 2 sườn đông và tây rõ rệt, lượng mưa hàng năm khác nhau đã góp phần tạo nên các tiểu vùng khí hậu khác biệt. Đây cũng là yếu tố quan trọng trong việc tạo ra 2 đai khí hậu nóng ẩm, nhiệt đới mưa mùa từ độ cao 700 ( 800m trở xuống và đai khí hậu á nhiệt đới mưa mùa, cũng như một số khu vực có nhiệt độ, lượng mưa rất khác nhau của Tam Đảo.

Do có sự khác nhau về đất đai và khí hậu giữa các vùng cộng với sự tác động của con người đã tạo ra các hoàn cảnh lập địa khác nhau. Đây là nguyên nhân chính để tạo ra sự đa dạng về các hệ sinh thái rừng, các quần xã sinh học và đa dạng về loài của rừng Tam Đảo.

Về thực vật

Theo kết quả điều tra cho thấy ở Tam Đảo có 8 loại rừng và thực bì khác nhau, mà mỗi kiểu rừng đó thường đại diện cho một loại hình lập địa và tương ứng có một tổ thành loài cây nhất định như:

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: Kiểu rừng này bao phủ phần lớn dãy núi Tam Đảo và phân bố ở độ cao dưới 800m, với nhiều tầng tán và những loài cây có giá trị kinh tế như: Chò chỉ (Shorea chinensis), giổi (Michelia SP), re (Cinamomum Ital), trường mật (Pavviesia annamensis) …

- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp: Kiểu rừng này phân bố từ độ cao 800m trở lên và trong quần hệ thực vật của kiểu rừng này không còn các loài thuộc họ dầu (Dipterocarpaceae). Thực vật ở đây gồm các loài trong họ re (Lauraceae), họ dẻ (Fagaceae), họ chè (Theaceae), họ mộc lan (Magroliaceae), họ sau sau (Hamamelidocene) … Từ độ cao 1000m trở lên xuất hiện một số loài thuộc ngành hạt trần như: Thông nàng (Dacrycarpus imbrricatus), pơ mu (Fokieria hodginsii), thông tre (Podocarpus neriifolicy), kim giao (Nageia fleuryi) … Dưới tán kiểu rừng này thường có các loài như: Vầu đắng, sặt gai, Các loài cây bụi thuộc họ cà phê (Rubiaceae), đơn nem (Myrsiraceae), họ thầu dầu (Euphorbiaceae) …

- Rừng lùn trên đỉnh núi: Là kiểu phụ đặc thù của rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp mà thực vật chủ yếu là các loài cây thuộc họ đỗ quyên (Ercaceae), họ re (Lauraceae), họ dẻ (Fagaceae), họ hồi (Illiciaceae), họ thích (Aceraceae) … Kiểu rừng này xuất hiện ở các đỉnh núi cao khoảng 1000m trở lên.

- Rừng tre nứa: ở Vườn quốc gia Tam Đảo rừng tre nứa không có nhiều (chỉ có 884 ha) và thường phân bố ở độ cao trên 800 m, có các loài tiêu biểu là: Vầu, sặt gai ở độ cao 500 ( 800m là cây giang và dưới 500m là nứa.

- Rừng phục hồi sau nương rẫy, sau khai thác: Trước khi thành lập Vườn quốc gia Tam Đảo, rừng ở đây chỉ được bảo vệ  từ độ cao 400m trở lên, dưới 400m là rừng kinh tế, nên rừng ở đây các lâm trường đã khai thác gỗ với cường độ cao và một phần diện tích ở đây được dân làm nương rẫy. Ngày nay diện tích này được bảo vệ phục hồi rừng với các loài cây: Dung (Symplocos SP), màng tang (Litsea cubeba), dền (Xylopia vielana), ba soi (Macarauga denticulata)...

- Rừng trồng: Rừng trồng ở Tam Đảo đã có từ thời Pháp thuộc, loài cây chủ yếu của thời kỳ này là thông đuôi ngựa (Pinus Massoniana), lim xanh (Erythropholenm fordii). Sau này được trồng thêm các loài: Bạch đàn, keo, thông Caribee và một số loài cây bản địa có nguồn gốc tại Tam Đảo.

- Trảng cây bụi: Loại này thường xuất hiện ở nơi đất chưa có rừng, khô hạn, nhiều ánh sáng, điển hình là: Thẩu tấu (Aporosa dioica), thổ mật (Bridelia tomentosa), thao kén (Helicteres SP), me rừng (Phyllanthus embrica)…

- Trảng cỏ: Loại này được hình thành trên các kiểu rừng đã bị khai thác, đất bị thoái hoá mạnh và được phân ra thành 2 loại hình: Trảng cỏ cao, có chiều cao khoảng 2m  và mọc thành từng bụi như: Lách (Saccharum spontaneum), cỏ chít (Thysamolema maxima), cỏ lào (Chromolaena odorata) … Trảng cỏ thấp, gồm các loài cỏ thấp dưới 2m, mọc thành thảm cỏ dày đặc hoặc rải rác, điển hình là cỏ tranh (Imperata cylindrica), cỏ đắng (Paspalum scrobiculatum), cỏ sâu róm (Setaria viridis)…

Nhìn chung hệ thực vật Tam Đảo khá phong phú và phân bố trên nhiều sinh cảnh khác nhau từ trảng cỏ, cây bụi đến các loài cây gỗ trên núi đất, núi đá. Theo GS. TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn (Đại học khoa học tự nhiên - Đại học quốc gia  Hà Nội) thì Vườn quốc gia Tam Đảo có khoảng 2000 loài thực vật. Đến nay tổng hợp số liệu điều tra của Viện sinh thái tài nguyên sinh vật (Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia); Đại học khoa học tự nhiên (Đại học quốc gia Hà Nội); Đại học lâm nghiệp, Viện điều tra qui hoạch rừng và một số cơ quan, tổ chức khác cho thấy đã thống kê được 904 cây có ích ở Tam Đảo thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành dương xỉ, hạt trần và hạt kín. Các loài cây này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau (Bảng 1).

Bảng 1. Giá trị sử dụng của thực vật ở Tam Đảo

Nhóm

Giá trị sử dụng

Số loài

Tỷ lệ (%)

I

Cây lấy gỗ

379

41,92

II

Cây cho quả

25

2,76

III

Cây cho sợi

20

2,21

IV

Cây làm thuốc

311

34,40

V

Cây cho tinh dầu

32

3,54

VI

Cây làm rau ăn

30

3,32

VII

Cây làm cảnh

102

11,28

VIII

Cây cho tinh bột

5

0,55

 

Trong các loài thực vật trên có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần được bảo tồn và bảo vệ như: Hoàng thảo Tam Đảo (Dendrobium daoensis), trà hoa dài (Camellia longicaudata), trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia petelotii), hoa tiên (Asarum petelotii), chuỳ hoa leo (Molas tamdaoensis), trọng lâu kim tiền (Paris delavayi)...

Về động vật

Khu hệ động vật Tam Đảo đã được nhiều tác giả người Pháp nghiên cứu và công bố vào những năm 30 và 40 của thế kỷ 20 như: Delacour (1931), Osgood (1932), Bourret (1943)... Sau năm 1954 các nhà khoa học Việt Nam đã bắt đầu thực hiện các nghiên cưú động vật tại Tam Đảo. Tổng hợp các kết quả điều tra, đã thống kê được 840 loài động vật, thể hiện ở bảng 2:

Bảng 2. Đa dạng thành phần động vật VQG Tam Đảo

Lớp

Số bộ

Số họ

Số giống

Số loài

Thú

8

25

48

64

Chim

16

50

140

239

Bò sát

3

14

46

75

Lưỡng cư

3

7

11

28

Côn trùng

8

48

271

434

Tổng số

38

144

516

840

Trong số 840  loài động vật trên thì có 39 loài đặc hữu, gồm:

- Những loài đặc hữu hẹp chỉ có ở Vườn quốc gia Tam Đảo gồm 11 loài:  Rắn sãi angen (Amphiesma angeli); rắn dáo thái dương (Boiga multitempolaris); cá coóc Tam Đảo (Paramerotriton deloustali) và 8 loài côn trùng.

- Những loài đặc hữu miền Bắc Việt Nam có ở Vườn quốc gia Tam Đảo : 22 loài và phân loài, trong đó: Chim  có 9 loài; bò sát  có 4 loài; ếch nhái  có 3 loài; côn trùng  có 6 loài.

- Những loài đặc hữu của Việt Nam , ở Vườn quốc gia Tam Đảo có 6 loài, trong đó chim  5 loài; ếch nhái  1 loài

Trong số động vật ở Tam Đảo hiện có: 8 loài đang nguy cấp, 17 loài sẽ nguy cấp, 13 loài hiếm có và 18 loài đang bị đe dọa.

Vườn quốc gia Tam Đảo là tài sản quý của quốc gia, có nhiều lợi ích cho cộng đồng cư dân trong khu vực. Vườn còn đem lại giá trị to lớn trong việc bảo vệ môi trường,  điều tiết và cung cấp nước, phục vụ nghiên cứu khoa học và  phục vụ cho du lịch và nghỉ dưỡng, cung cấp lâm sản, dược liệu... Đồng thời Tam Đảo là khu vực có tính đa dạng sinh học cao, là kho dự trữ các nguồn gen động thực vật quý hiếm của nước ta. Nguồn tài nguyên thiên nhiên quí giá này cần được bảo vệ để góp phần làm phong phú tính đa dạng sinh học của Việt Nam và thế giới.

(theo tchdkh.org.vn)

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi

SÁCH THAM KHẢO

CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT

SÁCH THAM KHẢO

LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2019