Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với

TIN TỨC > CÂY TRỒNG

Vài nét đặc trưng, hình thái và tập tính của hoa Mẫu đơn

Cập nhật ngày 13/12/2008 lúc 8:55:00 PM. Số lượt đọc: 1070.

Xếp vào hàng thứ 2 sau hoa mai, thứ 3 là hoa cúc, thứ 4 hoa lan, thứ 5 hoa nguyệt quý, thứ 6 hoa đỗ quyên, thứ 7 hoa sơn trà, thứ 8 hoa sen, thứ 9 hoa quế, thứ 10 hoa thủy tiên...

BVN: Thông tin chung

Tên thường gọi: Mẫu đơn
Tên khác: Bạch thược cao, Lộc phỉ, Thử cô, Bạch truật, Bạch lượng kim, Mộc thược dược, Lan Dương hoa, Phú quí hoa, quốc sắc thiên hương, vương hoa
Tên tiếng Anh: Peony
Tên la tinh: Paeonia suffruticosa Andr.
Thuộc họ Thược dược (Mẫu đơn) - Peoniaceae

Do tất cả các website khác của Việt Nam đều sao chép cùng một thông tin về loài cây này và do đó đều để tên khoa học là Paconie Suffruticosa, đây thực sự là một nhầm lẫn bởi Paconie không phải là tên la tinh của bất cứ loài cây nào. Chúng tôi đưa thông tin về cây Mẫu đơn theo website caycanhvietnam.com nhưng trong bài viết này của BVN, chúng tôi đã chỉnh lại tất cả các thông tin bị sai lệch. Đó chính là ưu thế của website BVN.

Mô tả

http://mareltrout.net/images/plants/redpeony052901.jpg

Mẫu đơn - Paeonia suffruticosa
ảnh theo mareltrout.net

Hoa mẫu đơn là loại cây "lạc diệp quá mộc" (sau khi rụng lá cây bụi thành dạng gỗ nhỏ) cao từ 1-2 mét, có khi đã cao đến 3 mét, phân cành nhánh nhiều. Rễ phát triển thành củ. Lá rộng bản, mọc đối thẳng đứng, hình trứng tròn, đầu lá có từ 3 đến 5 khía, cuống lá dài, co bộ toàn lục, bề mặt lá cung xanh lục, mặt trái màu tro lục, có phấn trắng, trơn nhẵn không lông hoặc có lông mịn nhỏ. Hoa lưỡng tính mọc đơn trên đầu cành, đường kính từ 10 đến 30 cm, nhiều nhụy đực, toàn bộ bị hoa bàn bao vây, cánh nụ 5 màu lục, cánh hoa nguyên bản có từ 5 đến 6 cánh, trải qua thời gian di thực trồng một bộ phận nhụy đực biến thành cánh hoa, hoa trở thành cánh kép, có đến 3, 4 tầng. Số cánh hoa ít gọi là "đa diệp", hoa có các màu sắc từ trắng, vàng, đỏ, phấn, lục, tím, tím than, nhung... Quả đại có vỏ quả dày, chín nứt ra, gọi là loại quả "cốt đột" quả đầy lông mềm mịn, đến lúc chín quả nứt ra có chừng 5-15 hạt giống lớn hình móp méo không tròn. 1.000 hạt cân đuợc khoảng 250-300gr.

Hạt nẩy mầm độ 60-90%

Hoa tháng 5-7, quả tháng 7-8. 

Đặc điểm sinh học - tập tính của Mẫu đơn

Hoa mẫu đơn do trong thời gian sinh trưởng kéo dài từ mùa xuân khô ráo, hè thu ấm áp đến mùa đông lạnh lẽo, với điều kiện tự nhiên như vậy, kinh qua hệ thống phát dục trải dài năm tháng, nên dần dần hình thành tập tính: "Chịu lạnh sợ nóng, ưa ráo, ghét ẩm", nên từ hoang dại di thực vào Lạc Dương, Hà Trạch nuôi trồng, gặp đúng điều kiện khí tiết hai nơi này rất thích hợp, nên ngày càng phát triển mạnh. Vị trí Lạc Dương ở đúng ngay vĩ độ Bắc 34,4 độ hàng năm khí hậu ôn hoà, nhiệt độ bình quân 15,7 độ C, lượng mưa bình quân 610,2 mm, mùa đông không lạnh gắt, hè không nóng cháy, quanh năm mưa thuận gió hòa... Vị thế của Hà Trạch cũng ở vào Bắc vĩ độ 35,20 độ, khí hậu tương cận với Lạc Dương, không chênh lệch mấy. Điều kiện tự nhiên hai nơi này đặc biệt thích nghi cho sự sinh truởng của hoa mẫu đơn.

Đất thích hợp cho cây mẫu đơn phải ở nơi có tầng đất sâu, dày, tơi xốp, màu mỡ, loại đất mềm thoát nước hoặc đất cát tốt, tốt nhất tầng đất mềm dẻo bên trên, dày độ 1 mét, bên duới tầng đất pha cát. Loại cây này không thích hợp với đất mặn, muối hoặc đất nóng.

Hiện nay tại các miền Nam, Bắc Trung Quốc đều có nuôi trồng hoa mẫu đơn, có thể nói độ ẩm đối với điều kiện sinh tồn chủ yếu của loại hoa này không ảnh huởng mấy, mà độ nóng (bao gồm độ nóng của đất) đối với mẫu đơn phản ứng rất là mẫn cảm, hoa mẫu đơn thích hợp với địa thế cao ráo, tầng đất sâu dày, thoát nước tốt, rất sợ úng nước nhất là vào mùa hè, mưa to nuớc không thoát hết, làm nóng chết rễ, cho dù thời gian ngập úng ngắn, cũng đều có hại với hoa mẫu đơn.

Thông tin khác: Dược học

Bộ phận dùng: Vỏ rễ - Cortex Moutan, thường gọi là Mẫu đơn bì.

Nơi sống và thu hái: Gốc ở Trung Quốc, được nhập trồng vì hoa đẹp và để sử dụng làm thuốc. Người ta thường dùng vỏ rễ phơi khô.

Thành phần hóa học: Có paeonolide, paconol, paconiflorin; còn có acid benzoic, phytosterol, các glucosid, alcaloid, saponin.

Tính vị, tác dụng: Vị đắng, cay, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt lương huyết, hoạt huyết tán ứ, tán độc phá ban.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa nhức đầu, đau khớp, thổ huyết, khạc ra máu, đái ra máu, cốt chưng lao nhiệt, kinh bế, thống kinh, ung thũng sang độc và đòn ngã tổn thương.

Đơn thuốc:

1. Chữa bệnh ôn nhiệt, sốt nóng vào mùa hè - thu, viêm não cấp, sưng gan, sốt xuất huyết, sốt cao co giật, hôn mê trằn trọc, khô khát, gầy rộc: Dùng Đơn bì, Huyền sâm, Sinh địa, Mạch môn, Ngưu tất, Quyết minh tử sao, Dành dành sao hay Hoa hoè sao qua, mỗi vị 12g sắc uống.

2. Chữa đơn độc sưng tấy, quai bị, bắp chuối, sưng vú, viêm tinh hoàn, cùng các chứng ứ máu sưng viêm phát sốt và phụ nữ đau bụng phát sốt trong khi hành kinh. Dùng Đơn bì, Bông trang, Huyết giác, Hoàng lực, Ðơn châu chấu, Chó đẻ răng cưa, mỗi vị 12g sắc uống.

Nguồn thông tin:
1. Cây cảnh Việt Nam - Caycanhvietnam.com
2. Y học cổ truyền Tuệ Tĩnh - Irc-hueuni.edu.vn

Anhtai (sưu tầm)

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi

SÁCH THAM KHẢO


CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT

SÁCH THAM KHẢO

LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2014