Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với

TIN TỨC > BẢO TỒN THIÊN NHIÊN

Bảo vệ hoa Lan

Cập nhật ngày 11/12/2008 lúc 2:03:00 PM. Số lượt đọc: 418.

Hoa lan từ lâu đã có sức quyến rũ loài người. Trong khoảng 200 năm vừa qua, con người đổ sô đi tìm kiếm hoa lan để trưng bầy, làm tặng vật hay buôn bán, vì ngoài giá trị làm đẹp cho đời sống, người ta còn dùng hoa lan làm bùa ngải hay thuốc trường sinh hay tăng cường sinh lý. Không biết bao nhiêu sách vở đã nói về những bông lan xinh đẹp và cũng còn những sách truyện nói về những chuyện kỳ bí, thám hiểm, buôn lậu hoa lan như: Orchid Thief, Orchid fever, Orchid Hunter, Orchid Ghost, Orchid in Lore and legend v.v…

Đầu thế kỷ thứ 18 các nhà hàng hải Anh Quốc mang về từ khắp nơi những bông lan quyến rũ vì hương thơm, mầu sắc, hình dáng, khác thường. Năm 1818, William Catley khi mở một thùng cây không thuộc loài lan, thấy một cây lạ dùng để độn thùng. Ông đem trồng và tháng 11 năm đó cây này nở hoa xinh đẹp lạ lùng và hương thơm ngào ngạt. Người ta đặt tên cho loài hoa đó là Cattleya để vinh danh ông.

Trên thị trường thương mại vào thế kỷ thứ 18, hoa lan không mấy phổ thông bởi vì chỉ có các bậc quan quyền, triệu phú mới hoặc là những khoa học gia và những nhà sưu tầm nghiên cứu mới đủ tư cách chơi lan. Giá một cây Aerides bán tại Luân Đôn vào năm 1855 là 89 đồng Anh kim khoảng 225 Mỹ kim và một cây Vanda vào năm 1885 giá 180 Anh kim, khoảng 450 Mỹ kim. Nên nhớ vào năm đó số tiền này đủ mua một căn nhà cỡ trung bình.

Bắt đầu từ thế kỷ thứ 19 người ta săn lùng hoa lan khắp nơi và từ năm 1890 cơn sốt hoa lan lan truyền khắp thế giới. Từ năm 1960 trở đi hoa lan là loài hoa chính trong các thương vụ về hoa trên thế giới. Theo thống kê của Bộ Canh Nông Hoa Kỳ, năm 2005 số thương vụ về hoa lan đã lên tới 100 triệu Mỹ Kim.

Năm 1973, Công ước Quốc Tế Bảo vệ các giống có nguy cơ tuyệt chủng (thú vật và hoa cỏ) Convention of Ternational Trade in Endangerd Species Flora and Fauna (CITES), mới bắt đầu quan tâm đến việc bảo tồn hoa lan và lúc đó những giống nguyên thủy đã gần như tuyệt chủng. Vào năm 1975, nhiều loài lan được đưa vào danh sách những cây cỏ được bảo vệ của CITES bởi vì nạn khai thác lan rừng quá đáng. Năm 1989 toàn thể các giống lan Nữ hài Paphiopedilum và Phragmipedium được đặt vào danh sách số 1 bởi vì phần đông là những giống đặc hữu rất hiếm quý như sau:

Danh sách số 1 (Appendix I) gồm các giống lan không đuợc phép buôn bán kể cả cây lẫn hạt giống, phấn hoa: Cattleya trianaei, Dendrobium cruentum, Laelia jongheana, Laelia lobata, toàn thể nữ hài nguyên giống Paphiopedilum (Việt Nam có khoảng 25 loài), Peristeria elata, toàn thể giống Phragmipedium, Renanthera imschootiana (Huyết nhung, Phượng vĩ), Vanda coerulea.

Muốn nuôi trồng để nghiên cứu, học hỏi hay bảo tồn giống cây này phải xin giấy phép xuất cảng và nhập cảng, giấy chứng nhận đặc biệt của CITES lại còn đòi hỏi phải hội đủ nhiều điều kiện kỹ thuật canh tác khác nữa.

Danh sách số 2 và số 3 bao gồm những cây lan khác, tuy nhiên cũng đòi hỏi giấy phép xuất nhập cảng, giấy chứng nhận không phải thuộc diện do CITIES bảo vệ.

Muốn mang lan vào Hoa kỳ ngoài giấy phép xuất, nhập cảng, giấy chứng nhận không thuộc các giống giới hạn bởi thương ước CITES, cần phải có giấy chứng nhận kiểm dịch (Phytosanitary certificate). Cơ quan kiểm dịch Hoa kỳ thuộc Bộ Canh Nông, Animal Plant Health Inspection Services (APHIS) sẽ xem xét kiểm nghiệm về bệnh tật, sâu bọ, trứng sâu... Nếu nghi ngờ, họ sẽ nhúng toàn bộ cây vào thuốc diệt trùng hoặc phun hơi trong phòng kín. Cách thứ 2 này sẽ làm tổn hại, một đôi khi làm chết cây. Nói tóm lại việc mang lan vào Hoa Kỳ đòi hỏi nhiều thủ tục nhiêu khê, phiền toái không bõ công cho những người chơi lan tài tử. Lẽ tự nhiên những gì hiếm có mới quý báu, còn những thứ đầy rẫy ở chợ, ở vườn ai màng làm chi. Vì vậy, các con buôn tìm đủ mọi cách lùng kiếm những thứ hiếm quý đưa ra thị trường tiêu thụ. Vì tham tiền, thấy lợi trước mắt, cho nên họ đâu có nghĩ đến hậu quả là nhiều giống cây, thú vật sẽ bị tuyệt chủng.

Người ta ước lượng rằng mỗi năm số lan xuất nhập cảng trên thế giới khoảng từ 20-25 triệu cây, trong số này 95% là những cây đã lai giống.

Khi lan không có hoa, dù là những nhà chuyên môn cũng khó lòng phân biệt nhất là những cây cùng một loài. Do đó việc buôn lậu và săn lùng lan rừng trái phép thường xẩy ra. Chuyện cây lan Phragmipedium kovachii của Peru, Paphiopedilum helenae, Paphiopedilum hangianum của Việt nam đã bị bọn con buôn vơ vét làm cho những cây lan rừng tuyệt tích khỏi núi rừng trong vài tuần lễ ngắn ngủi. (Xin xem bài 'Tìm kiếm Hoa Lan tại Việt Nam', 'Cây lan Đắt Giá', 'Hoa Lan Việt Nam và Luật lệ Hoa Kỳ' v.v...)

Từ lâu nhà cầm quyền Việt Nam vẫn xác nhận không hề cấp giấy phép xuất cảng hoa lan dù là phấn hoa nhị hoa hay cây con ở trong chai, nhưng trên thực tế các giống lan hiếm quý của chúng ta vẫn ào ạt tuôn ra thị trường quốc tế như Nhật Bản, Đài Loan và Âu châu. Chẳng cứ gì Việt Nam, cây lan hài Paphiopedilum thaiorum Thái lan và cây Phragmipedilum kovachii của Peru cùng nhiều cây lan của các nước khác cũng bị những bọn buôn lậu quốc tế dùng đủ mọi thủ đoạn qua mặt các nhà chức trách.

Nhiều người không đồng ý với những luật lệ của CITES trong đó có giáo sư Leonid Averyanov. Ông cho rằng việc CITES cấm đoán nhằm vào mục đích ngăn chặn việc buôn bán những giống hiếm quý, nhưng việc đó lại sinh ra chuyện buôn bán chợ đen với đủ mánh lới mà không có cách nào kiểm soát nổi.

Jerry Lee Fischer, Orchids Limited tại Plymouth Minnesota lại cho rằng gần đây sự đòi hỏi của CITES làm cho các vườn lan cũng như những người chơi lan tài tử gặp rất nhiều khó khăn trong việc việc nhập cảng lan từ ngoại quốc. Những cây lan gây giống nhân tạo và ngay cả những cây lai giống từ các vườn lan thuộc các quốc gia trước đây vẩn xuất cảng nay đòi hỏi nhiều giấy tờ và thời gian. Thí dụ như muốn xuất cảng lan vào Hoa Kỳ, vườn lan phải có giấy phép. Mỗi cây dù là nguyên giống hay lai giống phải được Sở bảo vệ Cá và thú hoang (US Fish and wildlife) chấp thuận trước và phải cho biết về phương pháp nhân giống, gieo hạt, cắt cành, hay cấy mô. Họ cũng muốn biết, cây này trước kia mua của ai, kèm theo biên lai, địa chỉ và các chi tiết như cỡ chậu còn dự trữ, mức sản xuất hàng năm, số cây xuất cảng hàng năm và số cây giống tồn trữ (cây cha và cây mẹ) và bao nhiêu cây sản xuất hàng năm do gieo hạt, cắt cành hay cấy mô.

Jerry cho biết nội việc điền hết các giấy tờ cho một giấy phép như vậy ông ta tốn hết 250 giờ và chờ đợi từ 9 tháng tới một năm.

Tuy rằng mục đích chính của CITES đã được minh định như sau: The Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora is an international agreement between governments. Its aim is to ensure that international trade in specimens of wild animals and plants does not threaten their survival, Công Ước quốc tế CITIES là một sự thỏa thuận giữa các chính quyền để đoan chắc rằng việc buôn bán trên quốc tế các giống thú hay cây cỏ không bị đe doạ đến đời sống.

Nhưng thủ tục của CITES và nhiều nước lại quá rườm rà và không thực tế chỉ làm cho việc săn lùng trái phép và bọn gian thương buôn bán chợ đen có đủ thời gian hoành hành và móc nối với các nhân viên tham nhũng. Điều phải làm và làm ngay như chính phủ Peru là một mặt cấm xuất cảng lan rừng, như cây Phragmipedium kovachii hay Phrag. peruvian nhưng mặt khác cho phép một số vườn lan bản xứ lấy vài cây để cấy giống hay cấy mô. Hiện nay những cây lan này có mặt trên khắp thế giới và việc khai thác cây lan này từ rừng sâu cũng như buôn lậu đã giảm bớt rất nhiều. Các xứ Ecuador và Brazil cũng bắt chước Peru thi hành những biện pháp như vậy.

Thái Lan với phòng thí nghiệm, trung tâm gieo hạt và cấy giống những hoa lan hài tại khu vực khẩn hoang do Hoàng Thái hậu Srinakarindra lập ra ở Doi Tung gần khu Tam Giác Vàng, đã đem lại một số ngoại tệ đáng kể và công ăn việc làm cho hàng ngàn dân chúng địa phương trước đây chỉ biết trồng cây nha phiến. Như vây thì gia tăng việc nhân giống nhân tạo và cấy giống hoa lan có phải là giúp cho các cây lan rừng tồn tại một cách hữu hiệu hay không?

Nếu Việt nam cũng cấm xuất cảng và khuyến khích mở thêm các trung tâm nghiên cứu cấy hạt, cấy mô những cây lan đặc hữu và xuất cảng ra nước ngoài sẽ đem về một nguồn lợi không nhỏ mà lại tạo thêm biết bao nhiêu công việc cho nhân dân.

Theo tin của Việt Nam News phổ biến trên trang Web, Việt nam đã có một cơ sở thuộc bộ Tài Nguyên và Môi Trường ở Dalat, năm 2007 đã sản xuất ra 3 triệu cây lan Cymbidium nhỏ trong đó có trên 1 triệu cây xuất cảng sang Hòa Lan. Ngoài ra Tiến sĩ Dương tấn Nhật, phó viện trưởng viện Sinh Vật Hoc đã tìm ra cách cấy mô cây lan hài Paphiopedilum delenatii. Nhưng chưa thấy có dấu hiệu nào chứng tỏ chúng ta xúc tiến mạnh mẽ trên phương diện này.

Trong bài Orchid Gardener in Hanoi, bác sĩ Tanaka cho biết tại Hà nội có phòng thí nghiệm JAVECO môt liên doanh do VEGITEXCO, một công ty quốc doanh chuyên về nông phẩm và hãng xe hơi Honda. Phòng thí nghiệm này chuyên về cấy mô nhưng chú trọng về loài lan Hồ điệp cung cấp cho thị trường quốc nội nhưng cũng đã sản xuất ra một số cây lan hài nuôi trong chai như Paph. henryanum, Paph helenae và Paph.emersonii trong tương lai sẽ sản xuất thêm các giống Paph. delenatii, Paph. hermanii v.v... để xuất cảng.

Chúng tôi nghĩ rằng việc này đã hơi muộn vì những cây lan hài hiếm quý của Việt Nam buôn lậu ra nước ngoài đã sinh con đẻ cháu trong các phòng thí nghiệm tại Đài Loan, Nhật Bản và Âu châu. Những cây lan hậu duệ của những cây nhập lậu dù sinh đẻ tại Hoa Kỳ vẫn không hợp với điều luật của CITES vì cây cha hay cây mẹ chỉ là những di dân bất hợp pháp không có giấy chứng nhận chính thức nhập cảng vào Hoa Kỳ, Gia Nã Đại hay các nước tuân thủ hiệp ước kể trên. Tại Hoa Kỳ, những cây này không được dự các cuộc thi hoa và nếu buôn bán sẽ vi phạm luật pháp.

Chúng ta là những người Việt lẽ tất nhiên là phải yêu mến cây lan Việt gia bảo, ai ai cũng muốn nuôi trồng những cây lan này, nhưng phải cẩn thận kẻo bị dính líu tới pháp luật. Hãy chịu khó đợi vài ba năm nữa, lan hài Việt Nam sẽ chính thức đầy rẫy trên thị trường quốc tế như những cây lan đặc hữu: Paphiopedilum delenatii hay Dendrobium amabile chẳng hạn.

Nói tóm lại mục đích của hiệp ước CITES rất hay nhưng cần phải sửa đổi lai sao cho hợp tình, hợp lý để cho những người chơi lan có cơ hội tiếp tay bảo tồn các giống hiếm quý. Biện pháp bế quan tỏa cảng, nội bất xuất ngoại bất nhập cứng ngắc, một chiều chỉ là gián tiếp dung dưỡng cho bọn gian thương kiếm lợi.

Xin kết luận một câu: Nếu gia tăng nguồn cung cấp, nhu cầu sẽ giảm, giá cả không còn hấp dẫn nữa và nạn buôn lậu sẽ phải cáo chung.

(Bùi Xuân Đáng)

(theo hoalanvietnam.org)

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi

SÁCH THAM KHẢO

CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT

SÁCH THAM KHẢO

LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2018