Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với

TIN TỨC > CÂY CỎ LÀM THUỐC

Khế - vị thuốc trừ phong độc

Cập nhật ngày 1/12/2008 lúc 1:44:00 PM. Số lượt đọc: 503.

Cây khế tên Hán là ngũ liễm tử, ngũ lăng tử (quả cắt ngang có 5 cánh như ngôi sao, có tính năng thu vào). khế dùng chữa bệnh ngứa, chữa viêm họng, ho, viêm tuyến nước bọt, đau khớp, phù thũng, làm ra mồ hôi, làm tiêu tan sự bải hoải rã rời...

Thông tin chung

Tên thường gọi: Khế
Tên tiếng Anh: carambola
Tên latinh: Averrhoa carambola L.
Thuộc họ Chua me đất - Oxalidaceae.

Vào thế kỷ thứ 12, Averhoes là một thầy thuốc kiêm triết gia Ả rập đã phát hiện cây khế là một dược liệu quý nên khế đã mang tên của ông

(ghi chú: Khế - ảnh theo baodanang.vn)

Mô tả

Cây gỗ thường xanh cao tới 10-12m. Lá kép lông chim gồm 3-5 đôi lá chét nguyên, mỏng hình trái xoan nhọn. Cụm hoa ngắn, thành chùm xim, ở nách các lá, nụ hoa hình cầu. Hoa màu hồng hay tím. Đài hoa có 5 lá đài thuôn mũi mác, ngắn bằng nửa tràng. Tràng gồm 5 cánh hoa mỏng, tròn ở ngọn, dính với nhau ở 1/3 dưới, 5 nhị đối diện với các lá đài xen kẽ với 5 nhị lép. Bầu hình trứng, phủ lông tơ; 5 lá noãn tạo thành 5 ô, mỗi ô đựng 4 noãn; vòi ngắn, đầu nhuỵ phồng. Quả to, tiết diệt hình ngôi sao 5 múi.

Đặc điểm sinh thái

Mùa hoa tháng 4-8, quả tháng 10-12.

Bộ phận dùng

Vỏ, quả, hoa, lá và rễ - Cortex, Fructus, Flos, Folium et Radix Averrhoae Carambolae.

Nơi sống và thu hái

Cây của vùng Ấn độ - Malaixia, mọc hoang và cũng thường trồng. Các giống thường gặp là khế chua và khế ngọt. Thu hái vỏ, thân, rễ quanh năm. Thu hái hoa và quả theo thời vụ.

Thành phần hoá học

Trong múi khế chua, hàm lượng acid oxalic là 1%. Trong quả khế có những yếu tố vi lượng như Ca, Fe, Na và nhất là có nhiều K. Có các vitamin A,C, B1, B2 và P.

Tính vị, tác dụng

Quả khế vị chua và ngọt, tính bình; có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, làm long đờm và tiết nước bọt. Rễ khế vị chua và se, tính bình; có tác dụng trừ phong thấp, giảm đau. Thân và lá vị chua và se, tính bình; có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu. Hoa vị ngọt, tính bình;có tác dụng trừ sốt rét.

Theo Đông y, quả khế vị chua ngọt, tính bình tươi hơi mát, chín thì ôn có tác dụng sinh tân dịch giải khát, lợi tiểu, trị phong nhiệt giải độc. Các bộ phận khác cũng được dùng chữa nhiều bệnh, nhất là khi bị dị ứng gây nổi mẩn ngoài da do nhiều nguyên nhân.

Công dụng

Quả trị ho, đau họng, lách to sinh sốt. Rễ trị đau khớp, đau đầu mạn tính. Thân và lá trị sổ mũi, viêm dạ dày ruột, giảm niệu, chấn thương bầm giập, mụn nhọt và viêm mủ da. Hoa trị sốt rét, trẻ em kinh giản; còn chữa chứng thận hư, kém tinh khí, ho khan, ho đờm, kiết lỵ. Vỏ cây chữa ho, trẻ em lên sởi, giúp sởi mọc tốt. Dùng hoa 4-12g, tẩm nước Gừng sao, sắc uống; lá và quả 20-40g; lá dùng tươi hay sao thơm; vỏ cây và rễ 10-12g hay hơn, sắc uống.

Đơn thuốc:

Lở sơn, mày đay: Lá Khế 20g hay hơn, nấu nước uống trong, lá tươi giã đặp ngoài, hoặc nấu nước tắm.

Sổ mũi, đau họng: Quả Khế tươi 90-120g ép lấy nước uống

Sưng lách sinh sốt: Quả Khế tươi chiết dịch và uống với nước nóng.

Chữa dị ứng do tiếp xúc với sơn ta: Dùng quả khế thái miếng hoặc lá đem vò để đắp xát trực tiếp lên da tổn thương. Lá khế tươi giã lấy nước cốt uống.

Rửa vết thương lở loét: Nấu nước quả khế rửa.

Chữa nước ăn chân: Quả khế chín lùi trong tro nóng áp lên chỗ tổn thương.

Chữa bí đái: Lấy một quả khế, một củ tỏi giã nhuyễn đắp lên rốn.

Cảm cúm: Sốt, đau mình, hắt hơi sổ mũi, ho. Dùng 3 quả khế nướng vắt nước cốt hòa 50ml rượu để uống.

Thanh nhiệt giải độc trong điều trị ung thư: Lấy khế rửa sạch gói trong vải khô vắt lấy nước, thêm nước đường nấu sôi. Sau đó cho thêm táo tây đã gọt vỏ, thái miếng, chuối thái nhỏ, cam múi, nho. Nấu sôi thì cho bột để sánh lại múc ra bát. Dùng cho người bị ung thư có sốt trong điều trị phóng xạ, hóa chất. Sơ cứu ngộ độc mã tiền: Ép quả khế lấy nước uống thật nhiều, thận trọng vì ngộ độc mã tiền gây co giật có thể tử vong, nên đưa ngay người bệnh đi bệnh viện để điều trị.

Chữa phong nhiệt mẩn ngứa mày đay: Dùng vỏ cây khế cạo bỏ lớp ngoài 40g sắc uống. Ngoài xoa lá khế tươi đã sao qua. Trẻ em bị sởi, để thúc sởi mọc thì lấy lá khế và vỏ cây khế sắc uống. Sau khi sởi bay hết, để tiệt nọc sởi khỏi tái lại thì lấy lá và vỏ nấu nước cho trẻ tắm.

Chữa đái dắt, đái buốt, đái ra máu do viêm bàng quang, âm đạo: Dùng lá khế 100g, rễ cỏ tranh 40g sắc uống ngày một thang.

Viêm họng: Lá khế 40g, thêm vài hạt muối giã nhỏ, vắt nước cốt ngậm.

Cảm nắng, sốt, khát nước, nhức đầu: Dùng 100g lá khế tươi, 40g lá chanh. Giã vắt lấy nước uống. Hoặc quả khế tươi nướng qua, vắt lấy nước uống.

Chữa ho khan hoặc có đờm: Hoa khế sao qua, tẩm nước gừng đã sao. Sắc lấy nước uống. Có thể thêm cam thảo nam 12g. Có sách còn ghi công dụng của hoa khế chữa thận hư, tinh kém, kinh giản ở trẻ em, chữa lỵ...

Anhtai (sưu tầm)

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi

SÁCH THAM KHẢO


CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT

SÁCH THAM KHẢO

LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2014