Trang chủ   Tin tức   Cơ sở dữ liệu    Đăng ký   Giới thiệu   Tìm kiếm: 
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.

Tương thích với

TIN TỨC > HỆ THỰC VẬT

Đa dạng thực vật Khu bảo tồn loài Vượn Cao vít Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng

Cập nhật ngày 14/5/2010 lúc 10:19:00 AM. Số lượt đọc: 1359.

Trong những năm gần đây, trước xu thế ngày càng giảm về số lượng của các loài động, thực vật quý hiếm, các quốc gia và các tổ chức phi chính phủ đã và đang rất nỗ lực hành động để bảo tồn các nguồn gen quý hiếm của trái đất. Việt Nam là một nước có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và phong phú nhưng cũng là nơi tốc độ tàn phá thiên nhiên và qua đó làm suy giảm tính đa dạng sinh vật nhanh chóng

Hiện nay, các loài linh trưởng là đối tượng quan tâm hàng đầu trong các chiến lược bảo tồn của các quốc gia và các tổ chức bảo tồn phi chính phủ. Ở Việt Nam, có nhiều loài linh trưởng rất quý hiếm như Voọc mũi hếch, Vượn cao vít, Chà vá chân nâu… là những loài đặc hữu của Việt Nam và đa số đang trên bờ tuyệt chủng. Các khu bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn loài và sinh cảnh được thành lập liên tục trong những năm qua là để khắc phục tình trạng suy thoái và góp phần tích cực trong công tác bảo tồn.

Trên núi đá vôi, do tính chất đặc biệt của nó, các hệ sinh thái hình thành ở đây có tính nhạy cảm cao, dễ bị thay đổi do các tác động của con người lẫn các tác động nội sinh (như sụp đổ, hấp thụ nhiệt, rạn nứt…). Thảm thực vật đóng vai trò quan trọng nhất trong cấu trúc của hệ sinh thái tự nhiên. Sự biến đổi của nó sẽ kéo theo hàng loạt những biến đổi của hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên sinh vật. Ngoài ra, nó còn là nguồn sống, là mái nhà cho sự cư ngụ của các loài động vật, nhất là các loài linh trưởng quý hiếm như Vượn cao vít, Voọc mũi hếch…

Khu vực bảo tồn loài Vượn cao vít nằm trên địa bàn ba xã Phong Nậm, Ngọc Côn và Ngọc Khê của huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng với tổng diện tích gần 7600ha, trong đó vùng lõi có 1600ha. Nhìn tổng quan, khu vực đá vôi của vùng nghiên cứu là một phần nhỏ của vùng đá vôi rộng lớn cao tới trên 1000m của 2 tỉnh Quảng Tây và Vân Nam, trên địa hình các khối núi đá vôi đồ sộ và rất đặc trưng của vùng Đông Bắc. Vùng trung tâm thuộc hệ tầng Carbon - Permi (C-Pbs), thành phần thạch học chính là đá vôi, đá vôi sét hay đá vôi silic với tầng dày 650 - 800m. Khu vực bao quanh có đá vôi thuộc phân hệ 2 hệ tầng Nà Quảng (D1-2nq2) với thành phần silic khá cao, dày tới 300-320m. Khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, mưa hè, không có tháng khô. Sinh khí hậu chung là á nhiệt đới ẩm với nhiệt độ trung bình năm 16-200, mùa lạnh dài trên 4 tháng, lượng mưa trung bình năm vừa phải từ 1.500 -2.500mm, mùa khô ngắn, thường dưới 2 tháng.

Việc nghiên cứu thảm thực vật ở khu vực này, ngoài mục đích góp phần vào công tác bảo tồn loài linh trưởng quý hiếm của Việt Nam mà nó còn cho thấy được những nét đặc thù của thảm thực vật chỉ tìm thấy ở khu vực núi đá vôi.

Phương pháp nghiên cứu

Áp dụng các phương pháp điều tra, xử lý, phân tích và định danh thực vật thông thường. Các đợt điều tra được tiến hành liên tục từ năm 2006 đến 2007 dưới sự tài trợ của tổ chức FFI, năm 2008 và 2009 được tài trợ bởi ngân sách nghiên cứu cơ bản của Viện Địa lý. Mẫu vật thu thập được lưu trữ tại Bảo tàng Thực vật, Trường Đại học Khoa học tự nhiên- Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Địa lý, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu

Đa dạng thảm thực vật

- Rừng á nhiệt đới thường xanh cây lá rộng ở thung lũng

Trong các thung lũng, thường có lớp đất mỏng, không khí ẩm ướt hơn so với vùng sườn và đỉnh nhiều sương đọng. Thảm thực vật trông có vẻ giống với rừng nhiệt đới thường xanh bình thường ở vùng núi thấp. Tuy nhiên, thảm thực vật ở đây đã bị tác động bởi cư dân địa phương trong quá khứ, cấu trúc của nó đã bị biến đổi. Tầng tán rừng không liên tục. Các cây còn sót lại cao tới trên 30m như Mạy thố (Dâu gia xoan - Allospondias lakhoensis), Móc (Caryota bacsonensis)...

Loài Sung (Ficus oligodon) có rất nhiều quả mọc ra từ các cành nhỏ trên bề mặt đất trông như rễ mang quả. Tầng cỏ có nhiều loài đặc trưng cho nền đá vôi như các loài thuộc các họ Gai (Urticaceae), Thượng tiễn (Gesneriaceae), Ráy (Araceae), Cau (Arecaceae) ... Tầng cây gỗ gồm các loài mọc nhanh (những loài tiên phong) đặc trưng cho giai đoạn tái sinh như các loài Quăng (Alangium kurzii), Sung (Ficus spp.,), Dướng (Broussonetia papyrifera), Xoan nhừ (Choerospondias axillaries), Nóng (Saurauia tristyla), Rà dẹt (Radermachera boniana), Sau sau (Liquidambar formosana), Tam thụ hùng (Trigonostemon sp.) ... Một số loài cây rụng lá cũng có mặt gồm Thích (Acer spp.), Bằng lăng (Lagerstroemia sp.), Lát (Chukrasia tabularis), Quếch (Chisocheton sp.), Xoan nhừ (Choerospondias axillaries), Sếu (Celtis spp.), Xoan (Melia azedarach), Sau sau (Liquidambar formosana)…. Trong rừng có nhiều loài làm thức ăn cho Vượn cao vít như Mạy thố, Móc, Sung lá tim (Ficus cardiophylla) và Dướng...

- Rừng tre nứa á nhiệt đới ở thung lũng

Kiểu này ít gặp ở khu vực nghiên cứu, chỉ với một vài mảnh nhỏ, không liên tục. Các loài thường gặp có Sặt (Arundinaria sp.), Tre gai rừng (Bambusa bambos), Mai (Dendrocalamus giganteus). Tầng cỏ chủ yếu là các loài thuộc họ Hòa thảo (Poaceae), Cói (Cyperaceae) và một số loài Dương xỉ.
- Rừng á nhiệt đới thường xanh cây lá rộng ở sườn núi

Đây là trạng thái rừng tốt nhất của khu vực nghiên cứu. Mạy puôn (Cephalomappa sinensis) thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) là loài ưu thế gần như tuyệt đối, đặc biệt nơi sườn có đất mùn thô. Chúng chiếm đến 76% độ quan trọng (IVI) trong cấu trúc của các ô; về số cá thể, khoảng 72%; 80% tiết diện gốc. Phần lớn chúng là các cây gỗ cao > 18m, đường kính >30cm. Nhiều cây gỗ to cùng gốc. Cây gỗ thường xanh chiếm ưu thế. Các cây gỗ rụng lá như các loài Thích, Bằng lăng, Xoan nhừ cùng một số loài khác thuộc họ Xoan (Meliaceae), bắt đầu rụng lá vào tháng 8. Dưới tán có các cây Nghiến nhỏ đang tái sinh.

Trên các yên ngựa có ưu hợp gồm Dâu gia xoan (Allospondias lakhoensis) + Nghiến (Burretiodendron hsienmu) + Si (Ficus racemosa) + Trai (Garcinia fragaeoides) + Huân lang (Wendlandia tonkinensis) + Bời lời (Litsea spp.) và Sếu lá re (Celtis cinnamomea).

- Rừng á nhiệt đới thường xanh hỗn giao cây lá rộng và hạt trần ở khu vực đỉnh núi

Cấu trúc của rừng trên đỉnh và vùng cận đỉnh khá khác biệt so với các kiểu còn lại. Mạy puôn không có mặt ở đây. Sặt (Arundinaria sp.) là dấu hiệu bắt đầu của kiểu thảm này, nó mọc bắt đầu từ lưng chừng núi trở lên. Đây là kiểu thảm ít bị tác động nhất của khu vực. Cấu trúc của rừng khá đơn giản với chỉ một tầng cây gỗ - tầng ưu thế sinh thái và cây gỗ chỉ cao 10-12m do đó kiểu này đôi khi còn được gọi là rừng lùn. Các loài Hạt trần như Thông pà cò (Pinus kwangtungensis), Thiết sam giả (Pseudotsuga sinensis) và Thông đỏ (Taxus chinensis) mọc lẫn với các loài cây lá rộng như các loài Dẻ (Castanopsis spp.), Platycarya strobilifera, Engelhardtia roxburghiana, Triadica rotundifolia, Phyllanthus sp., Vernicia montana, Celastrus sp., Sterculia sp., Acer tonkinensis, Wrightia sp., Cinnamomum spp., Litsea spp.… Theo Leonid và tập thể (2004), trước đây rừng còn có Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia) và Thông (Pinus fenzeliana) nhưng khảo sát mới đây không gặp chúng.

- Trảng bụi nhiệt đới thường xanh thứ sinh

Trảng bụi nhiệt đới thường xanh thứ sinh ở khu vực nghiên cứu được hình thành sau một thời gian canh tác dài ở các thung lũng. Kiểu này phân bố xen giữa vùng có cây gỗ và trảng cỏ, ở độ cao dưới 600m. Các loài bụi trườn ưu thế thuộc về các họ Đơn nem (Myrsinaceae): Measa spp., Cà phê (Rubiaceae): Mussaenda, Hoa hồng (Rosaceae): Rubus spp. và các loài Vi hoàng leo (Senecio scandens), Rau bò khai (Erythropalum scandes)... Các loài cây bụi gồm Đơn buốt (Bidens pilosa), Hồng bì rừng (Clausena sp.), Bụp (Abelmoschus spp.), Han xanh (Dendrocnide sinuate), Bồ cu vẽ (Breynia sp.), Nai bìa nguyên (Villebrunea integrifolia), Cỏ đuôi chuột (Stachytarpheta jamaicensis), Ngọc nữ (Clerodendrum spp.), Lấu (Psychotrya sp.), Gai (Boehmeria holoserica)... Một số loại cỏ dạng lúa cao mọc xen với cây bụi là Lau (Saccharum spontaneum), Cỏ tranh (Imperata cylindrica)… và các loài cây gỗ mọc nhanh gồm Thuốc vòi (Pouzolzia sp.), Nóng (Saurauia tristyla), Bùm bụp (Mallotus barbatus, Mallotus sp.), Sòi lá tròn (Triadica rotundifolia), Mã rạng (Macranga sp.), Dâu gia xoan (Allospondias lakhoensis), Dướng (Broussoneratia papyrifera), Chân chim (Schefflera sp.), Hemiscolopia trimera...

- Trảng cỏ nhiệt đới thứ sinh

Trảng cỏ được hình thành sau canh tác ở trên các thung lũng, độ cao địa hình thường dưới 600m. Các loài cỏ dạng lúa ưu thế gồm Cỏ tranh (Imperata cylindrica), Chít (Thysanolaena maxima), Chè vè (Miscanthus spp.), Lau (Saccharum spontaneum), Cỏ kê (Panicum sp.), Cỏ lá tre (Paspalum sp.) ... đó là các dạng cỏ cao. Các cỏ dạng khác gồm Thồm lồm (Polygonum chinensis), Thóc lép (Crotalaria sp.), Thù lù (Physalis minima , Lycianthes lysimacanthoides), Tô liên (Torenia glabra), Dương xỉ và họ hàng thân cận như Selaginella sp., Diplazium esculentum, Dipteris chinensis…, các loài trong họ Cúc: Vernonia sp., Blumea sp.. Một số loài cây bụi và cây gỗ nhỏ mọc lẫn trong trảng cỏ gồm: Bướm bạc (Mussaenda sp.), Táo (Ziziphus incurva), Bùng bục (Mallotus sp.), Sòi lá tròn (Triadica rotundifolia), Mã rạng (Macranga sp.), Chòi mòi (Antidesma sp.), Hồng bì rừng (Clausena sp.), Bụp (Abelmoschus spp.), Gai (Boehmeria spp.), Han xanh (Dendrocnide sinuate), Thuốc vòi (Pouzolzia spp.), Nai bìa nguyên (Villebrunea integrifolia), Cỏ đuôi chuột (Stachytarpheta jamaicensis), Ngọc nữ (Clerodendrum spp.), và các loài dây leo như Ngấy (Rubus sp.), Khổ áo (Thlandiantha spp.), Cầu qua (Zehneria spp.), Hồng bí (Trichosanthes spp.), Gối hạc (Leea indica), Dây khế rừng (Connarus sp.), Lài núi (Jusminum sp.), Tứ thư (Tetrastigma spp.), Hà thủ ô trắng (Strebtocaulon juventas), Móc bò (Uncaria scandens), Lạc tiên (Adenia, Passiflora foetida)...

Đa dạng hệ thực vật

Bảng 1. Thành phần hệ thực vật khu bảo tồn loài Vượn cao vít Trùng Khánh

Ngành, lớp

Họ

Chi

Loài

Số họ

%

Số chi

%

Số loài

%

Lycopodiophyta

Ngành Thông đất

2

1,4

3

0,6

5

0,5

Polypodiophyta

Ngành Dương xỉ

15

10,4

27

5,0

53

5,5

Pinophyta

Ngành Thông

5

3,5

8

1,5

8

0,8

Magnoliophyta

Ngành Mộc lan

122

84,7

503

93,0

894

93,1

Magnoliopsida

Lớp Mộc lan

103

71,5

372

68,8

645

67,2

Liliopsida

Lớp Hành

19

13,2

131

24,2

249

25,9

Tổng số

144

100

541

100

960

100

Mẫu vật từ các đợt khảo sát, sau khi định danh loài và sắp xếp theo hệ thống của Brummit (1992) cho kết quả: hệ thực vật gồm 960 loài (bao gồm các loài mọc tự nhiên chưa sử dụng trong trồng trọt và một số loài cây trồng mọc hoang dại, cây tự nhiên ở khu vực được gây trồng), 541 chi, 144 họ, thuộc 4 ngành thực vật, thể hiện ở bảng 1.

Hệ thực vật ở khu vực thiếu đại diện của ngành Psilotophyta (Lá thông) và ngành Equisetophyta (Thân đốt). Ngành Mộc lan chiếm tỷ lệ cao (93,1%) trong hệ thực vật, tiếp đến là ngành Dương xỉ (5,5%), Thông (0,8%), Thông đất (0,5%). Nhìn chung, ngành Mộc lan có tỷ lệ cao, nền đá vôi khô hạn không thuận lợi cho ngành Dương xỉ, Thân đốt phát triển nên đã nâng cao tỷ lệ của ngành Mộc lan.

Tỷ lệ số loài của lớp Mộc lan/lớp Hành ở khu vực nghiên cứu là 2,6/1. So sánh với hệ thực vật Việt Nam (8000/2775) tỷ lệ này là 2,8/1. Theo De Candolle, tỷ lệ của lớp Hành giảm từ Bắc cực đến Xích đạo. Tại ôn đới và Bắc cực, tỷ lệ này là 2,3 - 2,9/1. Nền nhiệt tương đối thấp cùng với nền đá không thuận lợi đã hạn chế sự phát triển của các loài trong lớp Mộc lan.

Mười họ giàu loài nhất hệ thực vật khu vực nghiên cứu gồm: Orchidaceae (Lan, 130 loài, chiếm 13,5% số loài của hệ thực vật), Fabaceae (gồm cả họ phụ như cách phân chia trước đây, 38 - 4%), Rubiaceae (Cà phê, 37 loài - 3,9% ), Urticaceae (35 - 3,6), Moraceae (32 - 3,3), Thầu dầu (29 - 3,0), Poaceae (28 - 2,9), Araceae (Ráy, 21 loài, 2,2%), Asteraceae (Cúc, 21 loài, 2,2%), Verbenaceae (Cỏ roi ngựa , 19 loài, 2%) [ ngoài ra họ Rutaceae (Cam chanh, 19 loài, 2,0%) không tính]. 10 họ này có 390 loài chiếm 40,6% số loài của hệ thực vật. Qua đó cho thấy, chế độ mát ẩm đã thuận lợi cho các loài Phong lan, Gai phát triển.

Chi giàu loài nhất của hệ thực vật là Ficus có 26 (2,7%), tiếp theo là Liparis (14 loài, 1,5%), Schefflera (11 loài, 1,1%), các chi Tetrastigma, Eria, Boehmeria, Asplenium (cùng có 9 loài, 0,9%) và các chi Setaria, Pilea, Paphiopedilum, Dendrobium, Ardisia (cùng có 8 loài, 0,8%). Trong số mười chi nhiều loài nhất này, một lần nữa thấy sự hiện diện của họ Phong lan (Orchidaceae) với 4 chi qua đó cho thấy Trùng Khánh là nơi rất thuận lợi cho sự phát triển của chúng.

Dạng sống được phân tích 937 trên 960 loài của hệ thực vật (3% số loài chưa đủ dữ liệu), kết quả phổ dạng sống được xây dựng như sau:

SB = 76.4Ph + 8,9Ch + 4,4Hm + 3,6Cr + 6,7Th

Nói chung phổ dạng sống của khu vực có sự sai khác so với phổ dạng sống ở các khu vực đá vôi khác: nhóm chồi trên có tỷ lệ cao; nhóm chồi nửa ẩn, nhóm chồi ẩn có tỷ lệ thấp. Nền nhiệt tương đối thấp, độ ẩm không khí cao và nền đá vôi thiếu lớp phủ đất chiếm phần lớn diện tích quy định mối quan hệ này.

Yếu tố địa lý phản ánh mối quan hệ giữa các loài hiện có ở một địa phương với các loài ở khu vực xung quanh. Dựa vào quả phân tích 923 trên số 960 loài, kết quả tổng hợp về yếu tố địa lý được thể hiện ở bảng 2.

Bảng 2. Yếu tố địa lý của khu bảo tồn loài Vượn cao vít Trùng Khánh

Yếu tố địa lý

Ký hiệu

Số loài

Tỷ lệ %

Đặc hữu Việt Nam

1a

61

6,3

Đặc hữu Bắc Việt Nam

1b

55

5,7

Đông Dương

2

112

11,7

Nam Trung Hoa

3

157

16,4

Hải Nam, Đài Loan, Phi-lip-pin

4

40

4,2

Himalaya

5

14

1,5

Ấn Độ

6

157

16,4

Ma-lai-xi-a

7

5

0,5

Ma-lai-xi-a - In-đô-nê-xi-a

8

33

3,4

Ma-lai-xi-a - In-đô-nê-xi-a - Châu Úc

9

7

0,7

Châu Á nhiệt đới

10

153

15,9

Cổ nhiệt đới

11

28

2,9

Tân nhiệt đới và liên nhiệt đới

12

20

2,1

Đông Á

13

26

2,7

Ôn đới Bắc

14

3

0,3

Châu Á

15

29

3,0

Phân bố rộng

16

11

1,1

Yếu tố di cư và nhập nội hiện đại

17

13

1,4

Chưa xác định

 

37

3,9

Tổng số đã xác định

 

923

96,1

Nguồn tài nguyên thực vật

Về giá trị sử dụng, đã thống kê được 10 nhóm công dụng do tổng số 423 loài, chiếm 44% số loài tạo nên. Kết quả tổng hợp thể hiện ở bảng 3.

Có 34 loài được ghi danh trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) gồm: 2 loài rất nguy cấp (CR): Quế bời lời (Cinnamomum parthenoxylon), Kim cang pê-tơ-lô (Smilax petelotii); 13 loài nguy cấp (EN): Hoàng liên gai (Mahonia nepalensis), Trai lý (Garcinia fagreoides), Sồi đầu cứng (Lithocaspus finetii), Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Kim tuyến đá vôi (Anoectochilus calcareous), Lan kim tuyến tơ (Anoectochilus setaceus), Nhẵn điệp nón (Liparis conopea), Thanh thiện quỳ (Nervillia fordii), Lan hài vàng (Paphiopedilum helenae), Lan hài tía (Paphiopedilum micranthum), Kim hài (Paphiopedilum villosum), Hồng nhung vàng xanh (Renanthera citrine), Thất diệp nhất chi hoa (Paris polyphylla ssp. fargestii) và 19 loài sẽ nguy cấp (VU): Thông pà cò (Pinus kwangtungensis), Đội mũ (Mitrephora calcarea), Bạch đầu nã phá luân (Vernonia bonapartei), Đinh thối (Markhamia stipulate), Trám đen (Canarium tramdenum), Đảng sâm (Conodopsis celebica), Hòe bắc bộ (Sophora tonkinensis), Sồi sim (Quercus glauca), Vù hương (Cinnamomum balansae), Mộc vệ nữ (Taxillus gracilifolia), Thoa (Acmena acuminatissima), Bạc cánh (Leptomischus primuloides), Hoàng tinh hoa trắng (Disporopsis longifolia), Sâm cau (Peliosanthes teta), Kim diệp (Dendrobium fimbriatum), Tiêu hài vàng xanh (Paphiopedilum hirsutissimum), Đảng sâm (Codonopsis javanica), Rau sắng (Meliantha suavis), Trân châu xanh (Nervilia aragoana).

Bảng 3. Các nhóm công dụng và tỷ lệ (%) của hệ thực khu bảo tồn loài Vượn cao vít Trùng Khánh

Nhóm công dụng

Ký hiệu

Số loài

Tỷ lệ

Làm thuốc

Me

284

29,6

Lương thực, thực phẩm

Ed

111

11,6

Cho gỗ, củi

T

110

11,5

Làm cảnh

Or

55

5,7

Dầu béo

Oi

21

2,1

Sợi

Fi

16

1,7

Tinh dầu

E

10

1,0

Ta-nanh

Ti

8

0,8

Nhuộm

D

7

0,7

Thức ăn cho vật nuôi

F

45

10,6

Vật liệu xây dựng

Ma

4

0,4

Nhựa

Sa

2

0,2

Tổng số loài có công dụng

 

423

44,1%

Kết luận

Thảm thực vật ở khu vực nghiên cứu đã được mô tả trong 6 kiểu thảm chính gồm: rừng á nhiệt đới thường xanh cây lá rộng ở thung lũng, rừng tre nứa ở thung lũng, rừng á nhiệt đới thường xanh cây lá rộng ở sườn núi, rừng á nhiệt đới thường xanh hỗn giao cây lá rộng và hạt trần ở khu vực đỉnh, trảng bụi nhiệt đới thường xanh thứ sinh và trảng cỏ nhiệt đới thường xanh thứ sinh.

Hệ thực vật đã thống kê được 960 loài, 541 chi, 144 họ, thuộc 4 ngành; Mười họ giàu loài nhất có 390 loài chiếm 40,6% số loài của hệ thực vật; phổ dạng sống đã được xây dựng bằng công thức: SB = 76,4 Ph + 8,9 Ch + 4,4 Hm + 3,6 Cr + 6,7 Th. Các yếu tố địa lý có số loài nhiều nhất là Ấn Độ, Nam Trung Hoa, Châu Á nhiệt đới và Đông Dương. Đã thống kê được 10 nhóm công dụng do tổng số 423 loài, chiếm 44 % số loài của khu vực. Có 34 loài quý hiếm cần được bảo vệ, được ghi danh trong Sách Đỏ Việt Nam (2007).

Tài liệu tham khảo

1. Averyanov L.V., Phan Ke Loc, Nguyen Tien Hiep, Pham Van The, Nguyen Tien Vinh, 2004: Preliminary survey of Orchids and Gymnosperms in Trung Khanh district, Cao Bang province, northern Viet Nam. In the limits of Ngoc Khe and Phong Nam municipalities. Tài liệu của FFI.
2. Nguyễn Tiến Bân và cộng sự, 2003-2005: Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập II, III. NXB. Nông nghiệp, Hà Nội.
3. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007: Sách Đỏ Việt Nam (Phần II - Thực vật). NXB. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.
4. Brummitt R.K., 1992: Vascular Plant Families and Genera. Royal Botanic Gardens, Kew.
5. Vũ Văn Dũng, Nguyễn Huy Dũng, 1999: Tài nguyên rừng núi đá vôi Cao Bằng và phương hướng bảo vệ: 103-109. Bảo vệ và phát triển bền vững rừng và đa dạng sinh học trên vùng núi đá vôi Việt Nam. Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Hà Nội.
6. Đại học Quốc gia Hà Nội - Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, 2001: Danh lục các loài thực vật Việt Nam. Tập I. NXB. Nông nghiệp, Hà Nội.
7. Phạm Hoàng Hộ, 1999 - 2000: Cây cỏ Việt Nam, tập 1-3. NXB. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
8. Phan Kế Lộc, 1999: Tạp chí Lâm nghiệp, 12/1999, 35-36. Hà Nội. 
9. Nguyễn Văn Nhân, 1999: Nghiên cứu cơ sở phục hồi hệ sinh thái rừng trên núi đá bằng các loài cây bản địa ở Cao Bằng : 48-49. Bảo vệ và phát triển bền vững rừng và đa dạng sinh học trên vùng núi đá vôi Việt Nam. Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Hà Nội.
10. Vu Anh Tai et. al, 6. 2006: Update list of flora and making plots for access the forest structure and monitoring the phenology at protected caovit gibbon area, Phong Nam - Ngoc Khe, Trung Khanh district, Cao Bang province. FFI - Indochina programme

Nguyễn Hữu Tứ, Vũ Anh Tài, Phạm Thế Vĩnh, Trần Thị Thúy Vân
Viện Địa lý, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Nguyễn Thị Thanh Nga
Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã Quốc tế (FFI)

(Tuyển tập báo cáo Hội nghị Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 3, 22/10/2009 - Viên ST&TNSV - Viện KH&CN Việt Nam)

Anhtai.bvn

Đánh giá:      Google Bookmarks Facebook Twitter   Gửi email     Bản để in     Phản hồi


CÁC BÀI MỚI HƠN:
CÁC BÀI ĐĂNG TRƯỚC:
TIN BÀI MỚI NHẤT


ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT



LIÊN KẾT WEBSITE

 
 
 
 
 
 

TỪ KHÓA

BVN - BotanyVN - Botany Research and Development Group of Vietnam
(©) Copyright 2007-2014